Latest topics
» Bàn làm việc cũ
by diemchau 5/9/2017, 15:19

» HỘP MỰC PHOTO
by diemchau 24/5/2017, 13:27

» CHIP DÙNG CHO MÁY IN CANON
by diemchau 4/4/2017, 09:19

» Ở HCM mua mực in canon trắng đen ở đâu?
by diemchau 5/1/2017, 10:13

» Sáng tạo trong nghệ thuật hiện nay
by phanthanhquang 27/11/2016, 09:19

» Khuyến khích đưa mỹ thuật vào khuôn viên trụ sở
by phanthanhquang 11/11/2016, 07:05

» Nghề chơi cũng lắm công phu - Tạc tượng xong tặng
by phanthanhquang 11/11/2016, 07:01

» Nụ cười bí ẩn của Mona Lisa
by phanthanhquang 11/11/2016, 06:43

» Nghề tạc tượng gỗ dân gian
by phanthanhquang 18/10/2016, 05:32

» Tác phẩm điêu khắc khổng lồ xuất hiện ở Hà Nội
by phanthanhquang 18/10/2016, 05:16

» Sáng tác, tác phẩm mỹ thuật về lực lượng vũ trang...
by phanthanhquang 18/10/2016, 04:53

» Tuyển sinh năng khiếu vào Đại học Huế năm 2016 -đợt II
by khoadieukhac 21/8/2016, 10:04

» Thông Báo lao động toàn Khoa điêu khăc (CB-GV,SV)
by khoadieukhac 3/5/2016, 16:39

» Họa sĩ - Nhà điêu khắc Bùi Nam: Thổi hồn vào gỗ, đá
by khoadieukhac 13/3/2016, 10:13

» Người tạc tượng Đại tướng ở Tây Nguyên
by khoadieukhac 13/3/2016, 09:55

» Điêu khắc gỗ tạo việc làm cho thanh niên
by Admin 9/3/2016, 10:51

» Bắc Ninh đẩy nhanh tiến độ trùng tu, tôn tạo chùa Bút Tháp
by Admin 5/3/2016, 08:26

» Đăng ký tham gia Học bổng Qũy sáng tạo Lê Bá Đảng
by khoadieukhac 2/3/2016, 15:16

» Đinh Công Đạt - điêu khắc là tôn giáo
by Admin 28/2/2016, 08:28

» Gửi tình yêu vào đá
by Admin 27/2/2016, 23:15

» Viết statement: làm sao cho khỏi ú ớ?
by khoadieukhac 26/2/2016, 16:09

» KHẮC PHỤC LỖI DÍNH CỤC KHI MỞ WORD PHIÊN BẢN KHÁC NHAU
by khoadieukhac 25/2/2016, 21:10

» Bộ nhớ 360 TB siêu nhỏ chứa dữ liệu trong 13,8 tỷ năm
by khoadieukhac 21/2/2016, 10:39

» 100 chân dung nghệ sỹ bằng tượng sáp
by Admin 19/2/2016, 08:49

» Bản đồ Khoa điêu khắc trên Google Map
by Admin 17/2/2016, 13:12

» Chiêm ngưỡng bảo tàng khắc đá dưới lòng Đại Tây Dương
by Admin 16/2/2016, 13:48

» Sản phẩm gốm Phù Lãng hấp dẫn với vẻ đẹp mộc mạc, bình dị.
by hoachithanh 12/2/2016, 18:40

» Hiện thân của thần Hanuman bất tử
by hoachithanh 7/2/2016, 03:07

» Vẻ đẹp từ trăm năm Phụ nữ Việt
by phanthanhquang 7/2/2016, 02:59

» Tin học bổng
by hoachithanh 6/2/2016, 20:03

Thống Kê
Hiện có 2 người đang truy cập Diễn Đàn, gồm: 0 Thành viên, 0 Thành viên ẩn danh và 2 Khách viếng thăm

Không

[ View the whole list ]


Số người truy cập cùng lúc nhiều nhất là 93 người, vào ngày 7/1/2016, 10:30
Đăng Nhập

Quên mật khẩu

September 2017
SunMonTueWedThuFriSat
     12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930

Calendar Calendar


TẠO DÁNG VÀ TRANG TRÍ ĐỒ MÂY TRE ĐAN CỦA NGƯỜI BRU-VÂN KIỀU.

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

TẠO DÁNG VÀ TRANG TRÍ ĐỒ MÂY TRE ĐAN CỦA NGƯỜI BRU-VÂN KIỀU.

Bài gửi by hoachithanh on 29/9/2015, 07:40

MỞ ĐẦU.
          1. Lý do chọn đề tài:
          Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu đời sống văn hóa nói chung và các giá trị nghệ thuật truyền thống nói riêng của các dân tộc thiểu số ở nước ta đã được đẩy mạnh. Một trong những dân tộc ở miền núi Trung Bộ đã trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà văn hóa học, sử học, mỹ thuật học là dân tộc Bru-Vân Kiều. Đây là dân tộc mang trên mình những dấu ấn văn hóa cổ xưa độc đáo và cũng là dân tộc có số phận lịch sử oai hùng gắn với những kỳ tích của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta trong thế kỷ XX.

          Người Bru-Vân Kiều là một dân tộc thiểu số trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam. Theo các nhà dân tộc học, người Bru-Vân Kiều xưa kia sống ở bên kia dãy Trường Sơn, thuộc Trung Lào,  theo những biến thiên lịch sử và mưu sinh, họ đã có những sự chuyển dịch đến Bắc Thái Lan, vào Tây Nguyên nhưng đông đảo, tập trung nhất là vùng đất hiện đang sinh sống ở phía Tây của ba tỉnh Quảng Bình - Quảng Trị - Thừa Thiên Huế.

          Là một dân tộc có truyền thống văn hoá lâu đời, trong đời sống văn hóa cộng đồng ngày nay người Bru-Vân Kiều vẫn còn lưu giữ được những giá trị nghệ thuật-tâm linh đặc sắc. Trong nhiều hình thái nghệ thuật truyền thống của người Bru-Vân Kiều có một dạng thức, hình thái nghệ thuật ứng dụng vẫn dường như còn nguyên vẹn sắc màu thời gian của nó, đó là việc đan lát tạo dáng và trang trí các đồ dùng, vật dụng cần thiết trong sinh hoạt hàng ngày. Những vật dụng mây tre đan không nhiều về chủng loại, chức năng nhưng thật độc đáo, phong phú về tạo dáng, trang trí hoa văn. Chúng là vật dụng  không thể thiếu khi người Bru-Vân Kiều lên rẫy, săn bắn, trồng trọt và cả trong nhiều sinh hoạt đời thường.Với chất liệu mây, tre đan, người dân đã tạo thành những vật dụng có hoa văn độc đáo riêng biệt mang tính thực dụng với màu sắc riêng của phong cách tự tại chân chất, hồn nhiên giàu mỹ cảm, vì thế không làm cho văn hóa của họ lẫn vào những hình thái văn hoá của các dân tộc khác.

          Điều rất cá biệt là trong khi nhiều dân tộc khác ở  Trường Sơn đang đánh mất đi rất nhiều dấu ấn văn hóa của mình thì người Bru-Vân Kiều lại dung hòa ổn định giữa cái cũ với cái mới. Mặt khác cuộc sống định canh, định cư, không còn lang thang phát rừng làm rẫy cũng ít nhiều làm thay đổi thói quen ngàn đời du canh du cư. Dù đã có sự thâm nhập khá “lộ liễu” của các đồ dùng, vật dụng công nghiệp nhưng không vì vậy mà đồ đan lát mây tre và việc sản xuất các vật dụng hàng ngày để lên rẫy, vào rừng mất đi vai trò, nhu cầu bức thiết của nó. Giải thích điều này, ông David Thomas-một họa sĩ và nhà Việt Nam học khi nghiên cứu đời sống của cư dân Bru-Vân Kiều ở Hướng Hóa (Quảng Trị) đã cho rằng chính cái nghèo vẫn còn đeo bám nên họ mới chưa làm mất đi các giá trị của văn hóa cổ truyền. Thật nghịch lý nhưng cũng thật biện chứng khi chúng ta nghiên cứu đời sống tâm linh cũng như nghề đan lát đồ dùng bằng mây tre của bà con Bru-Vân Kiều, nơi chứa đựng những giá trị văn hóa quý giá mà thấm đượm bóng thời gian trong đó như ý kiến của GS.TSKH Phạm Đức Dương  nêu ra :” Nếu như chúng ta hiểu văn hóa là tất cả những gì do con người sáng tạo ra, thì mọi cái liên quan đến con người đều có mặt văn hóa của nó”[1 .11]. Đó cũng là lý do để chúng tôi thực hiện bài tiểu luận chuyên đề Dân tộc học văn hóa này.

          2. Mục đích nghiên cứu:
           Với những giá trị văn hóa còn âm hưởng tinh thần nguyên thủy, nghề đan lát vật dụng bằng mây tre cần được nghiên cứu, đánh giá một cách trân trọng hơn nữa. Nghề truyền thống mây tre đan còn lưu lại của đồng bào Bru- Vân Kiều cần được nghiên cứu, sưu tầm, khảo sát để lưu giữ, làm tỏa sáng các giá trị đó trong đời sống thẩm mỹ ngày nay, từ đó góp phần quảng bá phát triển du lịch và hội nhập nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của bà con, đó là việc làm cần thiết của chúng ta ngày nay.

          Trên góc độ chuyên môn sâu, việc nghiên cứu đặc trưng, kết cấu hoa văn, theo những quy luật tạo hình với những màu sắc chủ đạo của chất liệu trong quan hệ giữa tín ngưỡng với mỹ cảm cũng là một ý nghĩa mà bài viết hướng đến nhằm giới thiệu được nét riêng của nghề mây tre đan với tư cách là một biểu hiện văn hóa sinh động, từ đó nâng cao ý thức của cộng đồng trong việc lưu giữ, bảo tồn các giá trị  văn hoá đáng trân trọng của người Bru-Vân Kiều trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

          3. Phạm vi nghiên cứu
          Như trên đã trình bày, người Bru-Vân Kiều sống ở nhiều vùng khác nhau ở dãy Trường Sơn, tuy nhiên với những đúc kết của bản thân và tài liệu thu thập được từ các chuyến điền dã những năm qua, chúng tôi chỉ trình bày vấn đề nghiên cứu trên vùng người Bru- Vân Kiều sinh sống ở địa bàn 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế. Những vùng Bru-Vân Kiều ở Quảng Nam , Đaklak và các nhóm nhỏ khác do chưa được tiếp xúc trực tiếp nên chưa đưa vào bài viết này. Tuy nhiên qua tư liệu, chúng tôi vẫn sử dụng các thông tin để so sánh, làm rõ các giá trị và nội dung của đề tài. Đặc biệt là các thông tin trên mạng internet, ví dụ thông tin từ kết quả nghiên cứu người Bru-Vân Kiều sinh sống ở Đắc Lắc của GS.TS Gabor Vargyas, cán bộ Viện Hàn lâm Khoa học Hungary cũng giúp ích cho việc khảo sát, phân tích các sản phẩm đan lát mây tre sử dụng hàng ngày của người dân tộc Bru-Vân Kiều, so sánh  tạo dáng, cấu trúc hoa văn, chất liệu, màu sắc, tính thực dụng và thẩm mỹ của các vật dụng mây tre đan.

          4.  Phương pháp nghiên cứu:
          Trước hết điểm xuất phát là từ phân tích đặc điểm, điều kiện  tự nhiên, tập quán sinh hoạt văn hoá-tâm linh của người Bru-Vân Kiều, tìm hiểu các tài liệu  lịch sử, văn hoá dân tộc Bru-Vân Kiều. Sử dụng các hình ảnh, các hiện vật sưu tầm của các đồng nghiệp, các sưu tập, hình vẽ nghiên cứu của các họa sĩ và băng hình ..để làm nguồn tư liệu, thông tin cho bài nghiên cứu. Mặt khác phải chắt lọc từ vốn hiểu biết qua các chuyến thực tế, qua trao đổi, ứng xử với đồng bào Bru-Vân Kiều để đưa ra  những đánh giá xác đáng, có tính thực tiễn phù hợp với tiêu chí, mục đích nghiên cứu.
          I. VÀI NÉT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TRUYỀN THỐNG  VĂN HOÁ CỦA NGƯỜI BRU-VÂN KIỀU

          I.1. Điều kiện tự nhiên:
          Người Bru - Vân Kiều (Là tên tự gọi nhóm cư dân sống dưới núi Vân kiều, còn gọi là Bru, Vân Kiều, Mang Cong, Trì, Khùa, đây cũng là cách dùng để chỉ các nhóm khác nhau trong tộc người này). Các nhà Dân tộc học xếp tiếng nói của người Bru-Vân Kiều thuộc nhóm ngôn ngữ Mon-Khmer (ngữ hệ Nam Á), gần gũi với tiếng Tà Ôi, Cơ Tu. Người Bru - Vân Kiều thuộc nhóm dân cư được coi là có nguồn gốc lâu đời nhất ở Trường Sơn. Theo thống kê từ Tổng điều tra quốc gia được công bố vào ngày 1 tháng 7 năm 2003,  dân số người Bru-Vân Kiều vào khoảng gần 63.000 người. Người Bru-Vân Kiều có mặt ở một số vùng khác ở cao nguyên rừng núi, nhưng chủ yếu sinh sống ở phía đại ngàn của ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế.

          Vùng đất đồng bào Bru-Vân Kiều cư trú là vùng khí hậu khắc nghiệt, hạn hán, mưa lũ, thiên tai triền miên. Mùa hè gió Lào khô cháy thổi sang suốt hai tháng khiến nhiều vùng đất đai khô cằn, xơ xác, đó cũng là lý do mà trước đây đồng bào luôn sống du canh du cư. Trong những năm tháng chiến tranh, vùng đất có đường Hồ Chí Minh lại bị hủy diệt bởi chất độc đioxin, màu xanh của rừng già không còn nguyên vẹn, bom đạn cày xới làm cho đất càng cằn cỗi, bạc màu. Tuy vậy bà con Bru-Vân Kiều vẫn bám đất bám rừng. Trong các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, núi rừng Trường Sơn và người dân Bru-Vân Kiều trở thành pháo đài và căn cứ cách mạng vững chắc. Người Bru-Vân Kiều có quyền tự hào về tất cả những gì mà họ đã làm nên, họ tận tụy phục vụ cách mạng, chịu đựng gian khó, hy sinh và một lòng trung thành với Đảng, Bác Hồ, Người mà đồng bào đã đổi họ của mình thành họ Hồ để nguyện một lòng theo Đảng, Bác Hồ.

          I.2.  Truyền thống văn hoá:
          Với đặc điểm địa lý, tự nhiên, kinh tế - xă hội mang đậm màu sắc của cư dân sống dựa vào tự nhiên, rừng và sông suối là nguồn cung cấp nhiều thức ăn cùng các nguồn lợi khác. Diện mạo đời sống của người Bru-Vân Kiều khá khép kín, hướng nội và có sắc thái tự cung tự cấp. Do vậy văn hoá truyền thống của đồng bào Bru - Vân Kiều ít bị xâm nhập, pha tạp với văn hoá các dân tộc khác. Điều này cũng dễ hiểu bởi họ sinh sống trong vùng đất mà Phía Bắc giới hạn tự nhiên bởi đèo Ngang, phía Nam có đèo Hải Vân, phía Tây là biên giới Việt - Lào.

          Quan hệ xã hội trong cộng đồng Bru-Vân Kiều cũng khá phức tạp vì trong bản làng có nhiều  dòng họ khác nhau cùng sinh sống trên một địa vực. Chỉ qua việc cưới hỏi cũng đã rất phức tạp như  việc con cô cậu, vợ goá với anh hoặc em chồng, chồng goá với chị hoặc em vợ đều được chấp thuận kết hôn. Nhưng khi dòng họ này đã gả con gái cho dòng họ kia thì không được gả con gái lại cho dòng họ này nữa. Già  làng có vai trò quan trọng đối với đời sống của bản làng trong nhiều phương việc như họp làng, lễ hội, cúng tế, cuới xin, ma chay và nhiều công việc hành chính khác của làng.Tuy bà con không quá cách biệt về sự giàu nghèo, nhưng lại định ra giá trị tài sản qua số lượng chiêng, cồng, ché, nồi đồng, trâu v.v...

          Về trang phục, theo phong tục truyền thống, con trai đóng khố, con gái mặc váy. Trước kia người dân thường dùng vỏ cây sui trong rừng đập dập lấy xơ để che thân. Ðồ trang sức thường đeo là các loại vòng ở cổ, tay, khuyên tai. Các hình vẽ của người Pháp cho thấy trước năm 1945 đàn ông, đàn bà đều búi tóc, thiếu nữ búi lệch tóc về phía bên trái, khi đã có chồng tóc được búi trên đỉnh đầu. Phụ nữ Bru-Vân Kiều mặc áo có xẻ ngực  và hàng kim loại bạc tròn đính ở mép cổ và hai bên nẹp áo nổi bật trên nền chàm đen tạo nên một phong cách thẩm mỹ rất riêng.Váy trang trí theo các mảng lớn trong bố cục dải ngang. Váy thường không dài, vượt qua gối 20 đến 25 cm. Các già làng kể rằng xưa kia người Bru-Vân Kiều cũng biết dệt vải, nhưng hai cuộc chiến tranh tàn khốc làm cộng đồng ly tán, nghề dệt thổ cẩm đã bị mai một. Tuy nhiên các họa sĩ-nhà nghiên cứu cho rằng do phân tán ly lọan mà người Bru-Vân Kiều đã có những giao thoa văn hóa một cách tự nhiên với người Kinh, người Lào. Người Bru - Vân Kiều  dùng của cải trao đổi để lấy lấy muối, vải, thổ cẩm. Nhưng ở bình diện khác như tín ngưỡng, phong cách ứng xử văn hóa, các tục lệ bộ tộc và nghề dan đồ dùng mây tre vẫn được lưu giữ một cách bền chặt.



          Hoạt động sản xuất chủ yếu của người Bru-Vân Kiều là canh tác rẫy, trồng lúa là chính. Nông cụ làm rẫy cũng chỉ vài thứ như rìu, dao quắm, gậy trỉa, cái nạo cỏ có lưỡi cong. Cách thức sản xuất có vẽ rất nguyên thủy bằng cách phát rừng, đốt, rồi chọc lỗ gieo hạt giống, làm cỏ, gặt hái tuốt lúa bằng tay. Đất rừng phát thành rẫy có thể  đa canh, xen canh kéo dài trong năm. Ngoài việc trồng các giống lúa tẻ, lúa nếp, người Bru-Vân Kiều còn trồng khoai sắn, bầu bí, chuối, cà v.v... Người Bru-Vân Kiều  định ra các ngày và tên ngày trong tháng qua quan sát sự chuyển dịch của mặt trăng, đồng thời họ cũng quan niệm có những ngày tốt (ngày mùng 4, 7, 9) và những ngày xấu (ngày 30 và mùng 1). Mỗi năm, lịch nông nghiệp Bru-Vân Kiều gồm 10 tháng, tiếp đến thời kỳ nghỉ ngơi, chơi bời trước khi bước vào mùa rẫy mới. Người Bru-Vân Kiều thích các món nướng từ các con thú sa bẫy và cá vợt dưới suối. Thời kỳ trước bà con vẫn thích nấu canh rau rừng với cá, ếch nhái. Thông thường bà con ăn cơm tẻ thường ngày, chỉ khi lễ hội, họ mới nấu cơm nếp. Tác phong của nguời Bru-Vân Kiều trong ăn uống cũng giống như người Lào là quen ăn bốc, uống nước lã, rượu cần, trong bản làng nam nữ trưởng thành đều hút thuốc lá, tẩu bằng đất nung hoặc làm từ cây le.



          Người Bru-Vân Kiều rất coi trọng các lễ cúng mùa vụ, tín ngưỡng của người Bru-Vân Kiều còn dấu vết của tô tem giáo, họ tin vào các linh thần  huyền bí (Yang), họ coi vạn vật hữu linh, vì vậy có thần lúa, thần bếp lửa, thần núi, thần đất, thần sông nước, thần rừng v.v...Trong đó Thần Lúa được coi là vị thần quan trọng nhất. Trong truyền thuyết của người Bru-Vân Kiều, vị Thần Lúa (vật thờ tượng trưng là hình trái bầu) không chỉ cứu vớt loài người trong trận lũ lớn mà còn mang lại ấm no, sung túc cho con người.  Người Bru-Vân Kiều có nhiều lễ cúng khác nhau trong quá trình canh tác lúa rẫy nhằm cầu mùa, cầu an. Trong đó lễ cúng Yang  liên quan khá sâu sắc đến hoạt động sản xuất như các khâu phát, trỉa hạt( đây là nghi lễ diễn ra rộn ràng như một ngày hội của dân làng), tuốt lúa và cất giữ lúa. Người Bru-Vân Kiều cũng rất coi trọng việc thờ cúng tổ tiên, với họ linh hồn ông bà tổ tiên luôn ẩn hiện trong ngôi nhà của mình, có khi lại hóa nhập hồn vào những thanh củi cháy dở, cái a chói, cái típ xôi và cả những mảnh nồi, mảnh bát v.v... 

          Người Bru - Vân kiều vẫn còn duy trì được kiểu không gian kiến trúc truyền thống, đó là chọn những khoảng đất tương đối bằng phẳng làm nơi cư trú hoặc bố trí các nhà ở gần bờ sông, suối, tạo nên sự cư trú quần tụ. Nhà có sàn cao, dựng quây quần quanh sân chung của làng, các ngôi nhà trong làng xếp thành vòng tròn hay hình bầu dục, ở giữa là nhà công cộng. Người Bru-Vân Kiều làm nhà sàn nhỏ vừa phải, thích hợp với một gia đình gồm cha, mẹ và con cái chưa lập gia đình. Ở mỗi gia đình có nhà sàn, bếp lửa bố trí ngay trên sàn nhà. Nhóm Trì, Khùa, Ma Coong có nhà thường ngăn thành buồng làm chỗ ngủ riêng cho vợ chồng gia chủ, cho bố mẹ già (nếu có), cho con đã lớn. Kích thước ngôi nhà lớn hay nhỏ phụ thuộc vào gia đình giàu hay nghèo.



          Ngày nay không phải bộ phận Bru-Vân Kiều nào cũng giữ được bản sắc kiến trúc truyền thống như vậy, có thể thấy điều này qua khảo sát của GS.TS Gabor Vargyas từ tháng 4 đến tháng 9-2007 tại một cộng đồng Bru-Vân Kiều. với sự khẳng định: “Ngôi nhà dù xây theo kiểu nhà của người Kinh, nhưng nó đích thực là nhà của người Bru-Vân Kiều, bởi nó chứa đựng bên trong tập quán sinh hoạt, ứng xử và lễ nghi của người Bru-Vân Kiều. Và biết đâu, vài trăm năm sau những ngôi nhà xây ngày nay sẽ là những ngôi nhà cổ của người Bru”[2]

          Người Bru-Vân Kiều còn lưu lại được nhiều truyện cổ  truyền miệng kể về sự tích các dòng họ, nguồn gốc dân tộc và mọi vật v.v... Họ sáng tạo nên  các điệu hát như  hát Sim là loại hát đối đáp giao duyên.nam nữ,  hát chúc vui, chúc tụng khi có việc mừng hay hát vui trong các sinh hoạt của bản làng. Hát kể chuyện, hát ru. Hát cả trong đám ma và hát múa trong lễ hội đâm trâu. Nhạc cụ phổ biến là cồng, chiêng, đàn Achung, Plư, Ta-lư, kèn Amam, Ta-ral, khèn Pi, nhị, đàn môi, trống, sáo...

          II. GIÁ TRỊ TẠO DÁNG TRANG TRÍ ĐỒ DÙNG MÂY TRE ĐAN CỦA NGƯỜI BRU - VÂN KIỀU

             II.1. Chức năng vật dụng và tạo dáng trang trí:
Cái đẹp trong nghệ thuật nói chung và cái đẹp trong chế tác, tạo dáng trang trí đồ vật nói riêng đều bắt nguồn từ nhu cầu cuộc sống. Đối với đồ dùng, vật dụng mây tre đan của người Bru-Vân Kiều ta thấy chính sự gắn bó mật thiết với đời sống thực dụng và tâm linh, độ bền và sự bình dị, phổ biến quen thuộc của vật liệu đã góp phần làm nên sự độc đáo và giá trị tạo hình của chúng. Người Bru - Vân Kiều chủ yếu sống trên vùng núi cao, rừng thẳm, nơi họ luôn thả mình vào  thiên nhiên, chính kinh nghiệm sống trong môi trường tự nhiên đã dẫn tới việc họ chọn được vật liệu là tre, mây để làm ra vật dụng. Thực ra từ ngàn xưa ông bà tổ tiên của họ cũng như nhiều cư dân khácđã biết đan lát. Điều này đã được :”Các nhà khoa học đi đến một kết luận quan trọng: thời nguyên thủy, buổi đầu con người chưa nặn được đồ gốm bằng tay, chưa biết đến kỹ thuật bàn xoay, mà chỉ dùng đan lát tre nứa (đan khuôn), tạo ra hình dáng mong muốn.”[4.1057]. như Đó là những vật liệu dễ kiếm nhưng rất dẻo dai, bền chắc, có những vật dụng bằng mây tre đan nhưng được sử dụng, truyền lại rất lâu năm mà vẫn  gần như nguyên vẹn. Các vật dụng bằng mây tre đan không nhiều nhưng chúng là những vật không thể thiếu trong đời sống của đồng bào Bru - Vân Kiều. Từ mây tre, người Bru- Vân Kiều chủ yếu đan, tạo dáng, trang trí  các vật dụng sau:

          a. A chói:  Là loại gùi lớn, đây là chiếc gùi quan trọng nhất với thể tích lớn, dùng khi gùi các loại lương thực, thực phẩm, các loại hái lượm trên rừng.A chói là vật dụng lớn, khi dùng phải chịu lực nhiều nên phải sử dụng chất liệu nan đan bằng mây song, hoặc mây nước, mây đắng là những loại cây mây có sức bền, có độ dẻo dai, chịu lực cao. Gùi là phương tiện vận chuyển hàng hóa, người Bru-Vân Kiều dùng các loại gùi 2 quai quàng vào đôi vai. Chiếc gùi gắn bó khăng khít với mỗi người như hình với bóng, là vật dụng vận tải đa năng. A chói là vật thiêng của mỗi gia đình, vì vậy hầu như chỉ sử dụng trong gia đình mà hạn chế cho mượn, Khi chưa dùng đến họ đặt hoặc treo ở giữa nhà, nơi được cho là chỗ thiêng trong mỗi không gian kiến trúc truyền thống. Người Bru-Vân Kiều quan niệm cái A chói mà đẹp, bền chắc thì chứng tỏ gia đình sung túc, khỏe mạnh. Khi bỏ mả chia của cho người chết, có nhiều vật dụng được chia đem đi, nhưng riêng A chói thì  không chia cho người chết.



          b.A dàng: Là vật dụng nhỏ dùng đựng những thứ ít hơn, bỏ lên trên A chói lớn, chủ yếu đan bằng mây nước, mây đắng. Điều đáng nói là trong tạo dáng loại gùi này lại gợi lên sự liên tưởng một cách lý thú về tạo dáng của các đồ đồng dựng để của thời Đông Sơn. Đây không phải là sự cá biệt, bởi từ so sánh mẫu vật và theo đánh giá của PGS.TS Hoàng Lương  :” ... ở những mức độ khác nhau, nhưng nhiều tộc người sinh sống trên giải đất Việt Nam đều có mối quan hệ nhất định với văn hóa Đông Sơn. Cho dù, những mối quan hệ đó liên hệ với nhau bằng cách nào cũng đã bộc lộ sự  thống nhất trong tính đa dạng của văn hóa Việt Nam.“ [3 .112]

          c.A dư: Là vật dụng có hình thù độc đáo, khối rộng dài, dùng để cào vợt tôm cá nhỏ  ở suối. Loại sản phẩm này ngày càng ít được làm ra theo kiểu dáng truyền thống nên được coi là đồ hiếm hiện nay.

          d. Ta vin:  Là mẹt sảy gạo đan bằng tre với dáng thể giống như mẹt ở thôn quê của người Kinh.

          e. A điền (Pa điền, Típ ): Là vật dùng đựng cơm, xôi, thức ăn khi lên rẫy,  chủ yếu đan bằng tre giang. Chế tác tạo dáng A điền bằng chất liệu mây hoặc tre giang vót mỏng.



          Trong tạo dáng đồ vật, qua nghiên cứu khảo sát ta thấy kiểu đan tạo dáng đồ vật của người Bru- Vân Kiều cũng không khác là mấy so với kiểu đan của người Kinh nhưng hoa văn thì có nhiều điểm khác biệt do phối hợp các cách đan và có sự nhấn nhá nhịp đan khác nhau. Qua sự so sánh, lý giải chúng ta nhận ra các dị biệt trong cấu trúc tạo hình là không lớn, thậm chí  ngay cả khi đã có những bước phát triển nhảy vọt mạnh mẽ trong chế tác, tạo hình trang trí thì khoảng cách của sự tương đồng và khác biệt cũng không quá xa. Cách thức đan,  cài và phối lóng nan cũng gần và tương đồng với cách đan của nhiều dân tộc khác.Tuy nhiên chủ yếu là các cách phối hợp lóng đan sau:
+ Kiểu đan kết hợp lóng đơn với lóng đôi, lóng ba và đan lặp lại.
+ Kiểu đan kết hợp lóng đơn với  lóng đôi song song.
+ Kiểu đan  lóng đơn với lóng đơn , nhắc lại và xen kẽ.        
+ Kiểu đan kết hợp lóng đơn  với lóng đôi,  lóng ba, lóng bốn rồi  trở lại chu kỳ của nhịp đầu
+ Kiểu đan bóp hình tạo dáng bằng  các lóng bản rộng xen kẽ với các lóng đơn, lóng đôi khác.

          Mặc dù miền rừng núi là xứ sở của mây, tre nhưng không phải ai cũng có thể khai thác được, công việc năng nhọc này do đàn ông Bru-Vân Kiều đảm nhận.Cũng chính đàn ông là người ghánh vác công việc đan lát, ở Trường Sơn có đủ các loại tre và các loại cùng họ có thể sử dụng đan lát như nứa, giang, vầu, trúc. Còn mây thì có nhiều loại nhưng nếu cần thì có thể dùng sợi guột thay thê.      

           II.2 Hoa văn trang trí:
     Các kết hợp trong tạo tác, trang trí còn  tuỳ theo vật dụng và chức năng của chúng. Hầu hết các kiểu đan tạo dáng, trang trí đều sử dụng phương pháp đan lặp lại.Tuy nhiên không phải bao giờ cũng là sự lặp lại nguyên vẹn, mà có khi lặp lại lệch nhịp, lặp lại đổi chiều, lặp lại cách quảng...Vì thế hoa văn cũng được tạo ra rất ngẫu hứng, phong phú và mới lạ.

          Hoa văn được tạo thành bằng các nan bằng tre, mây, đan vào nhau theo quy luật nhất định để tạo thành vật đan. Hoa văn cấu thành bởi các dây mây, tre đan vào nhau, dùng để giữ bền chặt, hay làm dây đeo cho các vật dụng. Các hoa văn luôn tạo thành tiết điệu lặp lại, xen kẻ. Thông thường có hai cách xếp nan đan là xếp nan đan ngang - dọc,  xếp nan đan xiên chéo góc 300 đến 450 tuỳ theo từng vật dụng.Từ đó có các loại lóng đan kết hợp như lóng đơn,  lóng hai, lóng ba, lóng bốn, lóng năm Trong đó lóng bốn và lóng năm thường chỉ sử dụng khi bắt góc vuông hoặc thay đổi tiết điệu tạo dáng của vật, chuyển tiếp giữa cấu trúc hoa văn này sang cấu trúc hoa văn khác, ít sử dụng cho đan bình thường vì lóng dài làm cho vật dụng thiếu tính chắc chắn, các nan đan vào nhau thưa, xộc xệch.
    
           Các luân chuyển kết hợp của các hoa văn trên vật dụng được bố cục chặt chẽ, khoa học, phù hợp với chức năng sử dụng và  tạo nên sự hài hoà, cân đối, cho vật dụng. Hoa văn trang trí có nhiều hình thức bố cục như bố cục ngang với các hoa văn chạy xếp ngang xuôi ngược trên các diện của vật làm cho có cảm giác ôm chặt lấy vật dụng, hoa văn chạy ngang tạo sự luân chuyển không ngừng. Các hoa văn có bố cục chạy dọc theo thân của vật dựng lại  tạo cảm giác chắc chắn cho vật, khi kết hợp với bố cục ngang hoặc xiên sẽ hình thành các mảng hoa văn rất chặt chẽ, đẹp mắt. Chính bố cục dạng này đã tạo ra đặc trưng riêng của từng vật dụng. Sự kết hợp các kiểu bố cục trong cùng một vật dụng, tạo nên tính thẩm mỹ cao, hơn nữa chúng cũng nhấn mạnh chức năng sử dụng của vật dụng. Có thể nêu một số dạng hoa văn phổ biến sau:

+ Loại hoa văn sóng đuổi, bố cục chạy dọc trên A chói, Ta vin. Những vật dụng chịu lực nặng, dùng hoa văn sóng đuổi tạo cảm giác chịu lực và cân đối.
+ Hoa văn chân rết dọc hoặc xiên chéo thường nằm ở  phía trên của vật dụng, nhưng chủ yếu là ở các A du đan theo bố cục ngang tạo cảm giác chắc chắn, với motif  hoa văn luôn thay đổi khiến sự chuyển động của nhịp khối mây tre đan rất động. Chính việc sử dụng lối đan lóng đôi tạo thành hai hoa văn chân rết chồng lên nhau với sự biểu cảm về chất, không gian nổi, chìm âm dương rất mới lạ và hấp dẫn. Kết cấu hoa văn tạo chân rết nối từ miệng vật dụng xuống phía đáy, vừa tạo đường viền nổi, vừa làm dây cộng lực, hay cuộn vào thân của vật dụng tạo thành vành đai trang trí. Điều này cho thấy hoa văn mây tre đan không phải có tính độc lập hoàn toàn trong làm đẹp vật dụng mà chúng còn hình thành từ sự thực hiện chức năng thực dụng của vật, tăng cường độ bền vững của vật dụng.
+ Hoa văn chữ V đơn tuyến nằm ngang và nằm dọc trên các A điền- típ dựng xôi.
+ Hoa văn chữ dây thừng lệch pha trên A chói, Mẹt sàng gạo và A điền. Loại hoa văn này làm rõ phần kết cấu trọng lực chính của vật dụng, các mảng hình giới hạn bởi hoa văn đan dây thừng tạo nên các đường viền rất giàu tính trang trí.
+ Hoa văn  kết hợp giữa các loại hoa văn chân rết xuôi ngược và sóng đuổi trang trí cho các  A dàng, A điền tạo tính thẩm mỹ và độ bền cho vật. Dù có phối hợp nhiều hoa văn, nhưng loại hoa văn phối hợp này cũng dễ đan, không khó trong phối lóng đan hay bẻ khối tạo dáng trang trí. Các hoa văn tạo thành sự luân chuyển phong phú nhờ sự kết hợp khéo léo giữa chức năng, hiệu quả, yêu cầu của kỹ thuật đan và sự cần thiết phối hình hoa văn trang trí để hình ảnh như vận động không ngừng.Hoa văn đan được kết cấu chặt chẽ, linh hoạt, kết hợp nhiều kiểu hoa văn trên cùng một vật dụng, sự thay đổi linh hoạt giữa các vùng trên cùng một vật dụng tạo nên sự phong phú, đa dạng nhưng chặt chẽ, có bố cục hợp lí, tiện dụng và nhấn mạnh được chức năng của từng vật dụng khác nhau. Ngoài ra các vật dụng mây tre đan hầu hết có quai vải bện với hoa văn tinh nhã càng làm tăng thêm tính thẩm mỹ của vật dụng. Các dây quai, dây đeo thực hiện chức năng sử dụng của đồ vật, làm cho vật dụng chắc chắn, tiện dụng và bền vững hơn.
Một cụm hoa văn được trình bày, trang trí hợp lý, không chỉ có ý nghĩa thẩm mỹ-thực dụng mà còn mang dấu ấn tín ngưỡng nguyên sơ. Đó là sự thờ vạn vật hiển linh theo dạng tín ngưỡng Tô tem giáo, thờ thần linh và mong muốn các vị thần giúp cho con người yên ổn làm ăn sinh sống, cho vạn vật sinh sôi nảy nở, mùa màng tươi tốt, sự sống con người cũng được bảo vệ.

          Có thể thấy điều này qua kết cấu của các Típ dùng để đựng thức ăn. Cái đặc sắc của Típ là hoa văn  kỹ hà trang trí trên đáy.Tại đây chúng ta nhìn thấy xuất hiện năm đường hoa văn chân rết kép, được nổi cao, chạy tới hết phần thân của Típ. Người Bru- Vân Kiều cho rằng đáy tượng trưng cho hiện thân của thần Mặt Trời. Đáy tượng trưng cho nguồn sống thiêng liêng, năm hoa văn của chân rết kép là ngọn lửa xua đuổi tà ma, thế lực “âm” và cũng là tượng trưng cho 5 vị thần cai quản, trông coi, bảo vệ cho sản phẩm được chế biến từ ngũ cốc không bị  tà ma làm hư hỏng.


          II.3. Màu sắc trang trí:
          Người Bru-Vân Kiều có cách nhuộm màu vật liệu mây tre rất độc đáo, họ sử dụng chủ yếu là màu tự nhiên và khoáng chất, những thành phần màu sắc rất dễ tìm kiếm trong rừng và có khắp mọi nơi. Nếu xét trên góc độ khai thác vật liệu thì màu sắc đã được định ra kể từ khi chọn vật liệu mây, tre. Người Bru- Vân Kiều rút ra kinh nghiệm là tránh khai thác mây tre vào mùa thu-xuân bởi vì lúc này cây cối đang lên chồi non, thân yếu, nhiều nước nên dễ bị sâu mọt.

          Màu sắc đặc trưng của các vật dụng may tre đan của người Bru - Vân Kiều là màu nâu cánh dán, nâu thổ hoàng. Rõ ràng đó là màu tự thân của mây tre vì vậy tạo cho cảm giác gần gũi, quen thuộc, chắc khỏe. Đó cũng là màu rất tương đồng với màu da của người Bru- Vân Kiều chịu nhiều nắng gió, gợi lên sự mộc mạc, đậm đà, chân chất, thân thiện. Các vật dụng mây tre đan sử dụng lâu ngày ngã sang màu nâu đen hay màu đồng hun, càng sử dụng càng lên nước óng mượt, bóng sáng có sức  hấp dẫn thị giác cao.

           Công việc đan lát là của đàn ông, bởi ngay từ khâu chọn vật liệu cũng cần sức đàn ông trong chặt tre, vào rừng tuốt mây đem về bản. Sau khi chặt được mây, tre già vừa đủ, người dân ngâm tẩm các vật liệu vào trong ao hồ, khe suối tạo cho mây tre săn chắc bền, không mối mọt vì sau khi ngấm bùn, đã thẩm thấu các khoáng chất tự nhiên. Sau đó  các vật liệu được vớt lên, sấy khô và chế tác đan lát và có màu nâu cánh dán rát bình dị, đẹp mắt.
           Như vậy kết cấu hoa văn, màu sắc của vật dụng, tạo cho vật dụng có giá trị sử dụng và hiệu quả thẩm mỹ. Chính các vật dụng với  kết cấu hoa văn theo những quy luật chặt chẽ, bố cục phong phú đã nâng cao tầm giá trị thẩm mỹ của các vật dụng trong đời sống của người Bru - Vân Kiều.

           Người Bru - Vân Kiều với cuộc sống canh tác trên nương rẫy có  nhiều sự lệ thuộc vào thiên nhiên nên sinh hoạt của họ mang tính cộng đồng sâu sắc, họ đoàn kết gắn bó để cùng nhau chống chọi với thiên tai, hạn hán. Người Bru - Vân Kiều thờ thần mặt trời, thần núi, thần lửa, thần nước, thần gió; tín ngưỡng thờ cúng nên với niềm tin tâm linh của mình họ đã thể hiện qua cấu trúc, bố cục của các hoa văn trên vật dụng hàng ngày.Với những đặc trưng địa lý, văn hóa và lịch sử lâu đời, người dân Bru- Vân Kiều đã tạo ra một bản sắc văn hóa vùng độc đáo trong dòng chảy văn hóa của các dân tộc Việt Nam. Qua nghiên cứu, phân tích đồ dùng vật dụng mây tre đan ta thấy chúng thực sự là nơi lưu giữ những giá trị nghệ thuật độc đáo, đặc sắc,  tự thân mỗi sản phẩm mây tre đan  đã có tiếng nói và sức mạnh biểu cảm riêng, mỗi vật thể do chính bàn tay người dân Bru-Vân Kiều làm ra là một thực thể phản ánh nhu cầu hiện thực và tâm linh của dân tộc Bru-Vân Kiều trong quá trình lịch sử.

KẾT LUẬN
          Hoa văn trên các vật dụng bằng mây tre đan dùng trong sinh hoạt hàng ngày của người Bru - Vân Kiều là một nét văn hoá đặc sắc, ở mỗi vật dụng chúng ta nhận ra chúng chứa đựng sức biểu cảm tâm linh và thẩm mỹ sâu sắc. Đồng thời qua sự hiện diện của chúng trong nhiều mặt của đời sống, cũng là sự phản ánh chất sống  mộc mạc, đoàn kết cộng đồng, gần gũi với cuộc sống lao động ở người Bru - Vân Kiều. Những sản phẩm mây tre đan thể hiện sự đồng điệu với  phong cách trang trí của nhiều dân tộc khác ở Trường Sơn-Tây Nguyên và cả với phong cách trang trí của người Tày-Thái-Mường ở Tây Bắc.

          Cùng với sự đổi mới, phát triển của đất nước hiện nay, cái tốt và cả mặt trái của nền kinh tế thị trường đã len lõi đến tận các bản làng xa xôi, heo hút. Diện mạo đời sống và sinh hoạt của người Bru- Vân Kiều tất yếu có những thay đổi. Khoa học kỹ thuật phát triển, các vật dụng thường ngày được công nghệ hoá với các loại vật liệu mới, các đồ dùng bằng bằng đồ nhựa, sắt, inox, nhôm, đồng..ngày một xuất hiện nhiều hơn. Tuy nhiên hiện tại thanh niên Bru-Vân Kiều có hiểu về lịch sử văn hoá của chính dân tộc họ cũng không nhiều. Những người Bru-Vân Kiều có hiểu biết, có ý thức giữ gìn những nét văn hoá dân tộc Bru-Vân Kiều lại thuộc lớp người cao tuổi và họ còn lại cũng rất ít.
 
          Chính vì vậy việc bảo tồn và phát huy được các giá trị văn hóa của người Bru- Vân Kiều gặp không ít khó khăn.
Sự thật là những vật dụng mây tre đan độc đáo của người Bru - Vân Kiều ngày càng được nhiều người quan tâm, không ít người  đã có những đầu tư đáng kể để sưu tầm các hiện vật mây tre đan và coi đó là vật quý. Tuy nhiên các cấp chính quyền, các cơ quan văn hóa các cấp lại chưa có những động thái tích cực cho việc bảo tồn lưu giữ nét đẹp đó. Chưa nhận ra cần làm gì để làm tăng ý nghĩa kinh tế-du lịch và quảng bá văn hóa trong đó.

           Không chỉ riêng đồ dùng mây tre đan mà với những gì còn lại trong đời sống văn hóa của Bru- Vân Kiều cũng đủ làm chúng ta ý thức được rằng cần có một số biện pháp khẩn trương để bảo vệ, gìn giữ các di sản quý giá ấy. Có thể bước đầu chỉ là khôi phục,  tập hợp các nghệ nhân có kinh nghiệm đan mây tre để truyền lại cho thế hệ sau, đồng thời kết hợp giới thiệu quảng bá qua các hoạt động du lịch. Khuyến khích các nhà nghiên cứu tiếp tục khảo sát, đánh giá, tạo điều kiện cho các họa sỹ đi thực tế vẽ, chụp lại các mẫu hoa văn độc đáo của đồ mây tre đan để từ đó vận dụng trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống thẩm mỹ đương đại như thời trang, trang trí kiến trúc, tạo dáng vật dụng...Những kinh nghiệm bảo tồn văn hóa của các dân tộc khác trên thế giới đã chỉ ra rằng con đường và biện pháp ưu việt nhất là tạo dựng những điều kiện thuận lợi về mọi mặt cho các chủ thể văn hóa để chính họ tự khơi dậy, gìn giữ, phát huy truyền thống văn hóa của mình.

          Ngày nay cùng với sự phát triển về vật chất, người Bru-Vân Kiều được Đảng, Nhà nuớc rất quan tâm về mặt giáo dục và văn hóa tinh thần. Vừa qua nhà nước đã đầu tư biên soạn bộ sách giáo khoa bằng tiếng Bru-Vân Kiều, do nhóm cán bộ dân tộc Bru -Vân Kiều soạn thảo theo chương trình khung của Bộ GD-ĐT với dung lượng khoảng 200 trang, gồm 50 bài học bao hàm khối kiến thức trên 300 tiết. Cuốn sách hoàn thành sẽ góp phần tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước bằng tiếng Bru-Vân Kiều. Cùng với sự phát triển, đi lên của dân tộc, ngày nay người Bru-Vân Kiều cũng tự vận động không ngừng và hòa nhập vào đời sống đương đại. Người dân Bru- Vân Kiều đang vươn tới để  xây dựng cho mình một cuộc sống tốt đẹp hơn. Chính lúc này chúng ta càng phải thông nhât  sâu sắc hơn về phát triển và bảo tồn văn hóa dân tộc.

          Đối với người Bru- Vân Kiều hình ảnh các đồ dùng vật dụng mây tre đan thật quen thuộc và gắn bó hàng ngày. Đó là những vật dụng bình dị nhưng ẩn chứa những sức mạnh tinh thần sâu sắc. Nhìn rộng ra chúng còn là một trong những minh chứng sinh động về sự giao thoa văn hóa của các dân tộc thiểu số trong khu vực nói riêng và phảng phất bóng dáng văn hóa Đông Nam Á nói chung, do vậy qua đồ dùng mây tre đan của người Bru-Vân Kiều ta còn thấy dòng chảy văn hóa thuần khiết của dân tộc Bru-Vân Kiều trong tiến trình lịch sử. Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng :” … các quốc gia Châu Á muốn sống và vượt lên, họ cần phải  sáng tạo ra  một cách ý thức và một cách hệ thống một nền văn hóa chuyển hóa sắc tộc thành dân tộc” [ 5 . 15] .Điều đó đúng là vấn đề cần suy nghĩ thời đại ngày nay, trong quá trình hội nhập quốc tế mà vẫn coi trọng giữ gìn được bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc và làm cho các giá trị văn hoá được tỏa sáng hơn ./.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
 
1. Phạm Đức Dương(2000).Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á.
                                   NXB Khoa học xã hội.Hà Nội.
2. Kiều Bình Định- Đinh Hồng Hải. Cái nhìn nhân học và văn hóa về người Bru-Vân kiều.
                                    www.qdnd.vn/qdnd/baongay.vanhoa.doisongvanhoa.
Cập nhật: 07h17, Thứ tư, 12/09/2007 ( GMT + 7 )
3. Hoàng Lương (2003).Hoa văn Thái.NXB Lao Động. Hà Nội.
4. Bùi Văn Vượng (1998).Di sản thủ công mỹ nghệ Việt Nam .
                                    NXB Thanh Niên. Hà Nội.
5. Tiongsan (1994). Bài phát biểu tại Diễn đàn văn hóa Á châu. Philipin.1994
          ( Từ bài giảng của TS Annett ( Úc ) tại Đại học Mỹ thuật TP HCM năm 2001)

Phan Thanh Bình

_________________
Phan Xuân Hòa - Khoa Điêu khắc - Đại học nghệ thuật - Đại Học Huế.
Chỉ có chia sẻ kiến thức, bạn mới có thể trở nên bất tử.
http://hoachithanh.com
http://zbrushtiengviet.info
http://vn-gallery.com
avatar
hoachithanh
Admin

Nam Tổng số bài gửi : 624
Age : 57
Humor : Điêu khắc là một ngành nghệ thuật của nghệ thuật tạo hình, được sáng tạo theo nguyên tắc về thể tích, hình khối, vật chất trong không gian ba chiều và chịu sự chi phối của những quy luật tạo hình.
Points : 1839
Reputation : 1
Registration date : 16/09/2015

Xem lý lịch thành viên http://hoachithanh.cu.cc

Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang

- Similar topics

 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết