Latest topics
» Bàn làm việc cũ
by diemchau 5/9/2017, 15:19

» HỘP MỰC PHOTO
by diemchau 24/5/2017, 13:27

» CHIP DÙNG CHO MÁY IN CANON
by diemchau 4/4/2017, 09:19

» Ở HCM mua mực in canon trắng đen ở đâu?
by diemchau 5/1/2017, 10:13

» Sáng tạo trong nghệ thuật hiện nay
by phanthanhquang 27/11/2016, 09:19

» Khuyến khích đưa mỹ thuật vào khuôn viên trụ sở
by phanthanhquang 11/11/2016, 07:05

» Nghề chơi cũng lắm công phu - Tạc tượng xong tặng
by phanthanhquang 11/11/2016, 07:01

» Nụ cười bí ẩn của Mona Lisa
by phanthanhquang 11/11/2016, 06:43

» Nghề tạc tượng gỗ dân gian
by phanthanhquang 18/10/2016, 05:32

» Tác phẩm điêu khắc khổng lồ xuất hiện ở Hà Nội
by phanthanhquang 18/10/2016, 05:16

» Sáng tác, tác phẩm mỹ thuật về lực lượng vũ trang...
by phanthanhquang 18/10/2016, 04:53

» Tuyển sinh năng khiếu vào Đại học Huế năm 2016 -đợt II
by khoadieukhac 21/8/2016, 10:04

» Thông Báo lao động toàn Khoa điêu khăc (CB-GV,SV)
by khoadieukhac 3/5/2016, 16:39

» Họa sĩ - Nhà điêu khắc Bùi Nam: Thổi hồn vào gỗ, đá
by khoadieukhac 13/3/2016, 10:13

» Người tạc tượng Đại tướng ở Tây Nguyên
by khoadieukhac 13/3/2016, 09:55

» Điêu khắc gỗ tạo việc làm cho thanh niên
by Admin 9/3/2016, 10:51

» Bắc Ninh đẩy nhanh tiến độ trùng tu, tôn tạo chùa Bút Tháp
by Admin 5/3/2016, 08:26

» Đăng ký tham gia Học bổng Qũy sáng tạo Lê Bá Đảng
by khoadieukhac 2/3/2016, 15:16

» Đinh Công Đạt - điêu khắc là tôn giáo
by Admin 28/2/2016, 08:28

» Gửi tình yêu vào đá
by Admin 27/2/2016, 23:15

» Viết statement: làm sao cho khỏi ú ớ?
by khoadieukhac 26/2/2016, 16:09

» KHẮC PHỤC LỖI DÍNH CỤC KHI MỞ WORD PHIÊN BẢN KHÁC NHAU
by khoadieukhac 25/2/2016, 21:10

» Bộ nhớ 360 TB siêu nhỏ chứa dữ liệu trong 13,8 tỷ năm
by khoadieukhac 21/2/2016, 10:39

» 100 chân dung nghệ sỹ bằng tượng sáp
by Admin 19/2/2016, 08:49

» Bản đồ Khoa điêu khắc trên Google Map
by Admin 17/2/2016, 13:12

» Chiêm ngưỡng bảo tàng khắc đá dưới lòng Đại Tây Dương
by Admin 16/2/2016, 13:48

» Sản phẩm gốm Phù Lãng hấp dẫn với vẻ đẹp mộc mạc, bình dị.
by hoachithanh 12/2/2016, 18:40

» Hiện thân của thần Hanuman bất tử
by hoachithanh 7/2/2016, 03:07

» Vẻ đẹp từ trăm năm Phụ nữ Việt
by phanthanhquang 7/2/2016, 02:59

» Tin học bổng
by hoachithanh 6/2/2016, 20:03

Thống Kê
Hiện có 2 người đang truy cập Diễn Đàn, gồm: 0 Thành viên, 0 Thành viên ẩn danh và 2 Khách viếng thăm

Không

[ View the whole list ]


Số người truy cập cùng lúc nhiều nhất là 93 người, vào ngày 7/1/2016, 10:30
Đăng Nhập

Quên mật khẩu

September 2017
SunMonTueWedThuFriSat
     12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930

Calendar Calendar


Suy nghĩ về bố cục trong nghệ thuật điêu khắc-phần 1

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

Suy nghĩ về bố cục trong nghệ thuật điêu khắc-phần 1

Bài gửi by Admin on 14/9/2015, 07:15

   Phần 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TÂM LÝ SÁNG TÁC NGHỆ THUẬT TRONG ĐIÊU KHẮC.
   1.1. Sứ mạng to lớn của mỹ thuật nói chung và điêu khắc nói riêng.

   Sáng tác nghệ thuật là một công việc đặc biệt.
   Công việc sáng tạo ra các tác phẩm nghệ thuật là một công việc đặc biệt. Vì vậy những tác phẩm nghệ thuật cũng là những sản phẩm đặc biệt. Vậy những gì đã kết tinh trong sản phẩm nghệ thuật này, mà chúng lại có những tính chất đặc biệt như vậy. Thông thường, một sản phẩm trong xã hội khi được sản xuất ra, giá trị của nó được tính bằng giá trị của chính sức lao động của người sản xuất ra nó. Khi ra thị trường, giá trị của nó được cộng thêm với giá trị sử dụng mà tạo nên giá cả. Từ đây trở đi, tùy thuộc vào nhu cầu sử dụng thị trường mà giá cả sẽ lên xuống xung quanh giá trị của nó. Nhưng với một sản phẩm nghệ thuật, ngoài những quy luật thông thường nó còn có nhiều giá trị đặc biệt mà người thường khó có thể nhận chân. Nghệ thuật tạo hình có hai mảng sản phẩm mang tính chất khác nhau.

    Mảng sản phẩm thứ nhất là nghệ thuật phục vụ cho cuộc sống chung của xã hội. Sản phẩm của chúng do chính những người lao động bình thường làm ra phục vụ cho nhu cầu thẩm mỹ của những người lao động bình thường  trong xã hội. Sau những giờ làm việc căng thẳng, muốn tụ tập nhau uống trà đối ẩm bên những bộ bình trà độc đáo, với những hoa văn trang trí đẹp đẽ… Vì vậy, sản phẩm thủ công ra đời để phục vụ nhu cầu đó của con người. Chùng thường được gọi là các sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Đặc tính khác với các tác phẩm nghệ thuật là chúng được nhân bản rất nhiều, mất đi tính cá nhân, riêng lẻ, và đặc biệt là do nghệ nhân (những thợ làm nghề truyền thống lâu năm) và các thợ thủ công mỹ nghệ làm ra. Chúng có sứ mạng riêng, đó là cuộc sống hóa nghệ thuật. Nghĩa là cố gắng đưa cuộc sống bình thường hiện tại tiệm cận dần với các giá trị Chân Thiện Mỹ. Trong chừng mực phát triển với một quy mô nào đó, nó tạo thành những dòng văn hóa dân gian trong xã hội, phục vụ cho nhu cầu thưởng thức văn hóa của đại đa số người dân trong xã hội.

   Mảng thứ hai chính là các tác phẩm nghệ thuật. Chúng có những tính chất độc bản, có chất lượng nghệ thuật rất cao và mang đầy cá tính. Những tác phẩm này do các nhà sáng tác nghệ thuật chuyên nghiệp như các nhà điêu khắc, họa sĩ sáng tạo ra. Trong thượng tầng kiến trúc của xã hội, nghệ thuật là một phần quan trọng của văn hóa, bao gồm nhiều lĩnh vực, mà tất cả chúng đều có sự thôi thúc năng lực và tính sáng tạo của con người.

    Những lĩnh vực nghệ thuật chính yếu bao gồm:
   - Nghệ thuật văn chương (thường gọi là văn chương – bao gồm thơ, tiểu thuyết, và truyện ngắn) và những hình thức khác tương tự.
   - Nghệ thuật trình diễn (trong đó có âm nhạc, múa, ảo thuật, kịch nghệ và điện ảnh).
   - Nghệ thuật thị giác (bao gồm kiến trúc, điêu khắc và hội họa).
Việc nghiên cứu tính chất của các loại hình nghệ thuật đã được tiến hành từ thời cổ đại. Nhà nghiên cứu nghệ thuật người Đức Max Dessoir (1867 - 1947) phát hiện ra là vào thời "hậu Aristote" người ta đã tách ra 6 loại hình nghệ thuật và căn cứ vào tính chất của chúng xếp thành hai nhóm. Nhóm nghệ thuật tĩnh gồm có kiến trúc, điêu khắc và hội họa. Nhóm nghệ thuật động (ngày nay gọi là Nghệ thuật trình diễn): gồm có âm nhạc, thơ và múa. Sau này Friedrich Hegel (1770 - 1831) trong "Những bài giảng về Mỹ học", theo một hướng nghiên cứu khác, đã xếp 6 nghệ thuật trên thành hai nhóm:

    Nhóm một có kích cỡ vật thể nhỏ dần, gồm: Kiến trúc, điêu khắc và hội họa.
   Nhóm hai có khả năng biểu hiện (ngôn ngữ biểu cảm nghệ thuật) tăng dần, gồm: Âm nhạc, thơ và múa. Điện ảnh chính là ngành nghệ thuật thứ 7 ra đời vào đầu thế kỷ 18. Và phát triển mạnh cho tới tận ngày nay. Như vậy, điêu khắc cùng hội họa đã tồn tại rất lâu từ khi bắt đầu xuất hiện nền văn minh loài người. Trong bảng sắp xếp nào nó cũng đứng hàng thứ hai sau kiến trúc và trên hội họa. Như vậy tầm quan trọng của điêu khắc có ảnh hưởng rất lớn trong cuộc sống văn minh nhân loại.

   Cấu trúc các lớp giá trị của một tác phẩm nghệ thuật.
   Một tác phẩm nghệ thuật thường có nhiều lớp tồn ẩn bên trong nội tại của nó. Lớp đầu tiên nhất là giá trị vật chất tạo nên nó, bao gồm nguyên vật liệu, công sức vật chất tạo ra tác phẩm. Giá trị thường không bao nhiêu, và cách thức tạo ra chúng thường không tốn nhiều sức lực. (ví dụ như vẽ một bức tranh, không thể tốn sức hơn một bác thợ rèn khi làm ra một con dao sắt). Nhưng giá trị tinh thần tiềm ẩn tính văn hóa của nó là vô cùng quan trọng và lớn lao.

   Ta hãy lấy ví dụ một quả cam để so sánh cho dễ hiểu. Lớp thứ nhất ngoài cùng là một lớp vỏ màu vàng,  bất cứ ai nhìn vào, không cần phải suy nghĩ nhiều, chỉ với một chút ít kinh nghiệm cuộc sống cũng có thể nhận thấy hết sức rõ ràng. Đó là nội dung, hình hài, cốt truyện, những gì mắt thấy tai nghe, sờ mó trực tiếp trên tác phẩm, là chất liệu của các tác phẩm hội họa và điêu khắc…
 
   Lớp thứ hai của quả cam là cùi màu trắng, đã ẩn hiện một thông điệp nghệ thuật không phải ai cũng thấy, chỉ những độc giả có trình độ hiểu biết về thưởng thức nghệ thuật, những nhà chuyên môn lý luận mới có thể nhìn và luận giải ra được. Đây là một thông điệp, chủ đề, cảm xúc thẩm mỹ của chính tác giả muốn gửi gắm đến độc giả…

    Lớp thứ ba là những múi cam mọng nước, bao bọc những hạt mầm bí ẩn dành cho tương lai. Những vui buồn, chua ngọt hay đắng cay, chỉ có bản thân tác giả mới có thể thấu hiểu. Không dễ gì người bình thường và các nhà chuyên môn có thể hiểu. Ví dụ câu đố bí ẩn trong vở bi kịch Hamlet của nhà soạn kịch vĩ đại người Anh William Shakespeare (1564-1616). Câu đố đó hiện nay chưa ai giải đáp được, nó như một bức màn sương mờ phủ lên toàn bộ tác phẩm. Câu đố này đã được nhà tâm lý học Vugotski đề cập đến trong cuốn Tâm lý học nghệ thuật của ông. Trong giới nghiên cứu nghệ thuật trong và ngoài nước, không ai không biết câu đố bí hiểm này. Nó tồn tại cho đến tận ngày nay và vẫn chưa hề có lời giải đáp. Nó khiến toàn bộ vở bi kịch diễn ra dưới một bức màn sương mù bí ẩn đầy văn hóa của câu đố.

    Lớp thứ tư của quả cam là những cái tép và hạt của nó. Đến lớp này thì có khi ngay cả tác giả của nó cũng không thể nhận biết được mà phải là những nhà nghiên cứu xã hội, văn hóa và nghệ thuật đời sau đánh giá, nhận xét, và phát hiện ra chúng mà thôi. Ví dụ rõ nhất là với họa sĩ Vincent van Gogh.

   Theo wikipedia.org thì “Thời thanh niên, Van Gogh làm việc trong một công ty buôn bán tranh, sau đó là giáo viên và nhà truyền giáo tại một vùng mỏ nghèo. Ông thực sự trở thành họa sĩ từ năm 1880 khi đã 27 tuổi. Thoạt đầu, Van Gogh chỉ sử dụng các gam màu tối, chỉ đến khi được tiếp xúc với trường phái ấn tượng (Impressionism) và tân ấn tượng (Neo-Impressionism) ở Paris, ông mới bắt đầu thay đổi phong cách vẽ của mình. Trong thời gian ở Arles miền Nam nước Pháp, Van Gogh kết hợp các màu sắc tươi sáng của hai chủ nghĩa này với phong cách vẽ của mình để tạo nên các bức tranh có phong cách rất riêng. Chỉ trong 10 năm cuối đời, ông đã sáng tác hơn 2000 tác phẩm, trong đó có khoảng 900 bức họa hoàn chỉnh và 1100 bức vẽ hoặc phác thảo. Phần lớn các tác phẩm nổi tiếng nhất của Van Gogh được sáng tác vào hai năm cuối đời, thời gian ông lâm vào khủng hoảng tinh thần tới mức tự cắt tai bên trái của chính mình. Sau đó Van Gogh liên tục phải chịu đựng các cơn suy nhược thần kinh và cuối cùng ông đã tự kết liễu đời mình.”

   Như vậy sau khi ông mất, cũng theo wikipedia.org thì “Trường phái Dã thú (Fauvism) như Henri Matisse và các họa sĩ thuộc trường phái Biểu hiện Đức thuộc nhóm Die Brücke. Chủ nghĩa Biểu hiện trừu tượng trong nghệ thuật thập niên 1950 cũng bắt nguồn từ việc phát triển các ý tưởng sáng tác của Van Gogh. Năm 2004, trong Danh sách những người Hà Lan vĩ đại nhất trong lịch sử (De Grootste Nederlander) do đài KRO tổ chức, Vincent Van Gogh được xếp thứ 10 và là nghệ sĩ có thứ hạng cao thứ 2 trong danh sách, sau họa sĩ Rembrandt xếp thứ 9”.

    Rõ ràng là ngay khi lúc còn sống, Van Gogh không thể nghĩ những tác phẩm nghệ thuật của mình đã mở đầu cho nhiều trường phái nghệ thuật như thế. Cái lớp giá trị thứ tư bí ẩn đã tác động một cách nhiều mặt và nhiều dạng phong phú đến sự nhận chân, kế thừa và thúc đẩy sự sáng tạo nghệ thuật cho các thế hệ đi sau. Còn rất nhiều những tấm gương khác nữa giống như vậy trong lĩnh vực hoạt động nghệ thuật. Sứ mạng đặc biệt lưu giữ các nền văn hóa theo thời gian của nghệ thuật tạo hình.
 
    Xã hội đương thời đánh giá một nền văn hóa của quá khứ dựa vào những yếu tố của nghệ thuật tạo hình. Sách vở văn chương không thể tồn tại theo thời gian, do hạn chế kiến thức được viết lên các thẻ tre không thể tồn tại lâu dài với thời gian. Truyền thuyết dân gian qua nhiều đời cũng bị tam sao thất bản. Chỉ còn cách duy nhất là dựa vào điêu khắc và hội họa. Bởi chất liệu tạo ra chúng khá bền vững theo thời gian. Các chất liệu như đá, đồng nguyên chất, các bức vẽ trong hang động, đất nung như gốm sứ… đều còn rất nguyên vẹn như khi chúng mới bắt đầu được tạo ra. Rất nhiều nền văn hóa cổ xưa đã được tìm hiểu, phục dựng qua các tác phẩm điêu khắc, bức vẽ của hang động, cổ vật điêu khắc. Cả một ngành khảo cổ học đã ra đời rất lâu trên thực tế này…Một ví dụ chứng minh rõ nhất là nền văn hóa Hy Lạp rực rỡ với các bức tượng nổi tiếng của nó. Rồi văn hóa Ai Cập với những kim tự tháp.v.v…

    Chính vì vậy, các nhà họa sĩ và điêu khắc phải nhận thức được sứ mạng vô cùng to lớn đó. Vì đây chính là sứ mạng của nghệ thuật nói chung và nghệ thuật tạo hình nói riêng. Đây là một giá trị văn hóa quan trọng, nằm sâu trong lớp giá trị thẩm mỹ thông thường.  Mỗi tác giả phải ý thức rõ từ bản thân của mình. Đây có lẽ là một sự đòi hỏi mang tính tự giác chân chính cao nhất của mỗi con người làm nghệ thuật. Sứ mạng này vô cùng to lớn, và không phải bất cứ nghệ sĩ sáng tác nào cũng có thể đáp ứng được. Họ vừa phải vẽ theo các kinh nghiệm cảm xúc của bản thân, lại phải tự nhận thức, cá thể sáng tác của mình là một trong những yếu tố cấu thành nên một giá trị văn hóa của nền nghệ thuật của hiện tại, một đất nước, một khu vực, thậm chí cho cả một nền văn hóa tương lai mai sau.

    Muốn làm được những điều này, trong họ phải tồn tại nhiều yếu tố cấu thành, cả khách quan và chủ quan. Đầu tiên, trong con người họ phải có một niềm đam mê khát vọng cháy bỏng vì nghệ thuật, không khó khăn nào có thể cản trở họ trên con đường sáng tác của mình (hay còn gọi là tố chất năng khiếu bẩm sinh). Họ là một con người giàu cảm xúc, và luôn luôn có một nguồn năng lượng bẩm sinh dồi dào nuôi dưỡng cảm xúc đó. Nếu chỉ dừng lại ở đây thì vẫn không thể có khả năng trở thành một nhà nghệ sĩ. Bởi giàu cảm xúc chỉ là một điều kiện cần, nhưng chưa đủ. Bởi vì cảm xúc trong con người có hai loại rõ ràng, một loại cảm xúc gọi là khoái cảm, lên xuống theo các dục vọng đời thường vì nhu cầu của bản năng và cuộc sống. Hỷ, nộ, ái, ố dẫn đến tham, sân, si của nhà Phật có thể được ví dụ trong trường hợp này. Sự hân hoan vui mừng vì cơm ngon, rượu ngọt…Sự buồn bã vì mất mát những thứ tầm thường trong cuộc sống… Lồng lộn giận hờn khi thua thiệt, si mê một thứ gì mà mình yêu thích bất chấp lẽ phải. Những thứ đó không thể làm nên tố chất của một nghệ sĩ chân chính. Cái cảm xúc mà người nghệ sĩ cần có ở đây là mỹ cảm, tức là sự rung động từ đáy lòng với cái đẹp trong cuộc sống. Nghe một bản nhạc hay, lòng ta tràn đầy cảm xúc, đọc một câu thơ hay, đối diện với một hoàn cảnh điển hình nào đó trong cuộc sống, thì luôn dậy lên một cảm thông sâu sắc… Bình thường thì cảm xúc này ai cũng có, nhưng với quá trình cuộc sống va chạm, mưu sinh, cảm xúc mỹ cảm đã lần lần bị bào mòn thui chột. Ngay cả với một số nghệ sĩ nổi tiếng, khi cảm xúc bị bào mòn, mạch sáng tác bị đứt quãng, họ phải dùng đến các cảm xúc nhân tạo để tiếp mạch dang dở. Nhà thơ Lý Bạch đã phải dùng đến rượu để tạo cảm xúc, đến nối hình ảnh bầu rượu túi thơ luôn đi cùng thi nhân. Nhà viết truyện kiếm hiệp nổi tiếng Kim Dung, tương truyền mỗi khi viết, ông phải dùng đến thuốc phiện. Và còn nhiều trường hợp khác nữa…

    Cảm xúc thẩm mỹ liệu có thể tồn tại mãi với con người được không nếu không có sự nuôi dưỡng, chăm sóc, và phát triển nó. Thật không dễ gì để kéo dài cảm xúc này mãi mãi với con người nghệ sĩ. Người đời đã từng ví người nghệ sĩ như con tằm nhả tơ, rút từng đoạn ruột mình, và rồi đến lúc nào đó, hết tơ, con tằm sẽ chết.
 
    Người nghệ sĩ khi có được cảm xúc thẩm mỹ rồi thì liệu có thể sáng tác được không? Vẫn chưa thể được. Vì nếu chỉ cần có cảm xúc thẩm mỹ thôi, thì hãy nhìn những đứa trẻ lên 5 tuổi. Chúng ta hẳn phải khâm phục chúng vì chỉ với một viên gạch non, chúng có thể vẽ cả ngày, bất kể nơi đâu, trên tường nhà, dưới sân gạch… mà không còn biết gì đến thế giới xung quanh với một niềm đam mê vô hạn. Ngay cả những nghệ sĩ sáng tác cũng rất thèm thuồng những cảm xúc trong vắt, không lợn cợn một chút đắng cay vui buồn của cuộc sống mà chúng chưa phải đối diện. Nhưng hãy nhìn những gì chúng vẽ, quả thật không hề có một giá trị nào về nghệ thuật cả, nội dung hời hợt. Bởi vì chúng thiếu kỹ năng vẽ, nặn (thông thường phải được học trong các trường chuyên nghiệp) và quan trọng nhất là thiếu vốn sống, mà chỉ khi lớn lên, cọ sát, hứng chịu nhiều nỗi cay đắng cuộc đời, mới hàm chứa được nội dung sâu sắc của cuộc sống. Chúng vẽ mà không biết mình đang vẽ cái gì, mục đích gì... Chính vì vậy nếu là những người không có năng khiếu bẩm sinh về nghệ thuật, cảm xúc trân quý này sẽ lụi tàn ngay khi chạm bước vào đời. Hiện nay các cấp giáo dục phổ thông ở Việt Nam đã thực hiện các chương trình dạy hai môn nhạc và họa từ lớp một tới hết phổ thông cơ sở.
 
     Đây là một chủ trương hết sức cần thiết nhằm giúp những em học sinh có năng khiếu bẩm sinh được học thêm kỹ năng vẽ và luôn luôn được nuôi dưỡng, chăm sóc các cảm xúc thẩm mỹ. Nếu không có được điều kiện trở thành các nhà nghệ sĩ trực tiếp sáng tác sau này, thì cũng giúp các em một trình độ nhất định nào đó, nhằm giúp xã hội có một đội ngũ khán giả có thị hiếu lành mạnh, xây dựng một môi trường tạo dựng nên giới thưởng thức nghệ thuật, tức những người am hiểu và hâm mộ nghệ thuật. Một lực lượng không thể thiếu trong các hoạt động nghệ thuật văn hóa nói chung, và mỹ thuật nói riêng, mà khi dựa vào đây, nghệ thuật sẽ được phát huy đúng chức năng, và lên ngôi cùng sứ mạng to lớn của nó.

    Tóm lại muốn sáng tác được, ta cần phải có những yếu tố như năng khiếu bẩm sinh (khách quan), kỹ năng sáng tác (nhằm nắm bắt cảm xúc và có khả năng đưa cảm xúc trở thành tác phẩm bằng những kỹ thuật đã được học ở những trường nghệ thuật chuyên nghiệp). Vốn sống và sự trải nghiệm của người nghệ sĩ cũng là một yếu tố không thể thiếu. Qua cuộc sống, hai yếu tố kia cũng sẽ được nuôi dưỡng phát triển phục vụ cho quá trình sáng tác.

    Cuộc sống chính là bầu sữa mẹ không bao giờ cạn nuôi nấng, tiếp sức cho các cảm xúc thẩm mỹ trong mỗi cá nhân. Qua cuộc sống, trước mỗi hoàn cảnh điển hình nhất định, cảm xúc thẩm mỹ xuất hiện, người nghệ sĩ nắm bắt và dùng các kỹ năng sáng tác được học để thể hiện ý tưởng đó thành tác phẩm nghệ thuật. Trong hầu hết, quá trình sáng tác xảy ra như vậy. Nhưng có những trường hợp đặc biệt. Đó là các bậc vĩ nhân, họ thường tự thắp đuốc mà đi theo con đường riêng của họ chọn. Họ không cần phải học ai cả mà vẫn có những tác phẩm với đầy đủ các giá trị nghệ thuật cùng ẩn chứa sứ mạng mặc định của nghệ thuật. Chúng ta là những bậc thường nhân, vẫn cần phải học tập và kế thừa ánh sáng tri thức và kinh nghiệm sáng tác của họ.



     Điển hình là trường hợp của nhà điêu khắc Michelangelo (1475-1564), điêu khắc gia nổi tiếng nhất trong lịch sử nghệ thuật Công Giáo thời Phục Hưng. Cuộc sống và sự nghiệp của ông đã được nhiều người viết và được đưa lên trên hệ thống mạng Internet. Chúng ta có thể tìm hiểu với từ khóa “cuộc sống và sự nghiệp của Michelangelo”. Ông là một trong ba người khổng lồ của giai đoạn đầu thời kỳ Phục Hưng (từ khoảng 1420 đến 500). Hai người kia là các danh họa Leonardo da Vinci và Raffaello.

     Như vậy chúng ta đã rõ một quy trình làm việc để sáng tạo một tác phẩm nghệ thuật. Nhưng công việc tưởng như đơn giản lại không như ta tưởng. Bởi đây là một lĩnh vực hoàn toàn thuần túy về tinh thần. Mà đã là tinh thần thì không thể nhìn thấy, sờ thấy, nghe thấy và hoàn toàn mang tính chất dấu ấn cá nhân. Một tác phẩm nghệ thuật mang trên mình những đặc điểm chung đó nhưng vẫn phải thỏa các tính chất như cá tính, độc đáo về ý tưởng, cách thể hiện, có tác dụng ảnh hưởng lớn lâu dài tới xã hội hiện tại và tương lai… Tác phẩm nghệ thuật không thể sao chép ý tưởng, nội dung (đây là điểm đặc biệt khác với sản phẩm mỹ nghệ có thể nhân bản hàng loạt). Thậm chí nếu là một nghệ sĩ chân chính, ngay cả việc sao chép chính mình cũng là một điều không nên làm, chứ chưa nói tới việc đi sao chép ý tưởng của người khác.

     Có lẽ đây là một yếu tố hết sức đặc biệt của nghệ thuật khiến cho việc ấn hành và phát triển các giáo trình hay sách giáo khoa trong các trường chuyên nghiệp nghệ thuật gặp nhiều khó khăn (ngoài những giáo trình nghệ thuật mang tính triết học đầu ngành). Bởi lẽ, bản chất nghệ thuật là luôn sáng tạo ra cái mới, cái riêng, cái mà chưa ai gặp bao giờ. Và những cuốn giáo trình được viết ra lại mang đậm tính cá nhân của người viết, cô đọng, đóng khuôn, đơn điệu và khuôn phép. Liệu có thích hợp với sự phát triển lôgic trong mỗi cá nhân nghệ sĩ khác. Hay nó sẽ lại là một tấm da bịt mắt con ngựa nhằm chỉ cho nó đi theo một con đường duy nhất. Điều này lại mâu thuẫn với bản chất của nghệ thuật.

     Nhưng may thay, giáo trình thì ít ỏi, nhưng có rất nhiều sách tham khảo về nghệ thuật có giá trị cao cho mỗi con người, mỗi cá nhân muốn đi tìm bản chất cái đẹp trong nghệ thuật. Để có thể tìm được chân lý và cái đẹp theo các con đường khác nhau của mỗi người. Qua các sách tham khảo, vẫn có những cái chung nhất, những sợi chỉ đỏ (nguyên tắc tâm lý sáng tác chung) xuyên suốt không những trong nghệ thuật thị giác mà cả các ngành nghệ thuật khác như văn chương, trình diễn…Với mỗi một cá nhân nghệ sĩ, có thể có rất nhiều nguyên tắc áp dụng, kể cả những nguyên tắc đã học được, kể cả những nguyên tắc riêng tự đặt ra cho mình mà người khác không thể áp dụng được. Sau đây có thể quy về một số nguyên tắc chung nhất. Những nguyên tắc này đã được tác giả Chu Quang Tiềm đề cập tới trong cuốn Văn nghệ tâm lý học. Đây là một cuốn sách lý luận với tâm lý sáng tác và thưởng ngoạn nghệ thuật, giải quyết được rất nhiều vấn đề nan giải trong lĩnh vực nghệ thuật. Do dịch giả Khổng Đức và Đinh Tấn Dung dịch ra tiếng Việt, đã được Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản vào những năm 80. Những giá trị nó để lại vẫn đầy ắp tính ứng dụng vào công việc xây dựng, phát triển nghệ thuật trong lĩnh vực đào tạo và sáng tác. Sau đây là một số ứng dụng của các nguyên tắc tâm lý đó trong công việc sáng tác điêu khắc khi làm việc trên máy tính và nhất là với phần mềm Zbrush.

      1.2. Nguyên tắc khoảng cách tâm lý.
      1.2.1. Xác định một khoảng cách tâm lý trong sáng tác điêu khắc.

     Đây là một nguyên tắc quan trọng trong sáng tác và thưởng ngoạn. Trong lúc sáng tác (hay thưởng ngoạn) hãy đẩy xa đối tượng (tác phẩm) một khoảng cách hợp lý. Đừng để khoảng cách đó quá gần, hiện thực sẽ nhấn chìm cảm xúc mỹ cảm. Nhưng cũng đừng để xa quá, sự viển vông không tưởng cũng sẽ nhấn chìm các kinh nghiệm mỹ cảm của mình đã từng tích lũy qua trải nghiệm, và không thể phát huy được trong sáng tạo.

     Trong lĩnh vực nghệ thuật nói chung và nghệ thuật điêu khắc nói riêng, nguyên tắc này vô cùng quan trọng. Phân biệt giữa người có chuyên môn sáng tác và các đối tượng hâm mộ chuyên môn. Bởi giữa hai đối tượng giống nhau ở chỗ đều say mê đến cuồng nhiệt chuyên môn nghệ thuật. Nhưng một bên thì sáng tác được, một bên thì không. Điển hình là trong mỹ thuật phân hóa thành ba giới trong một đội ngũ, và không thể thiếu nhau trong các hoạt động của lĩnh vực mỹ thuật (theo quan điểm riêng của người viết).

     Giới thứ nhất gồm các nghệ sĩ tạo hình là các nhà điêu khắc, họa sĩ chuyên nghiệp hay nghiệp dư. Giới này bao gồm hai loại: Một là những bậc cao nhân, có năng khiếu bẩm sinh, tự thắp đuốc soi sáng con đường sáng tác nghệ thuật của mình. Hai là những bậc thường nhân, soi nhờ đuốc của người khác, học tập rèn luyện, cuối cùng tự đốt được ngọn đuốc của tự ngã, đi lên bằng chính đôi chân của mình. Giới thứ nhất này chính là những tác giả sáng tác những tác phẩm nghệ thuật để đời, tồn tại với thời gian.

     Giới thứ hai là các nhà nghiên cứu phê bình nghệ thuật. Giới này chính là giới đã có công lao khai thác, tìm hiểu các tác phẩm của giới mỹ thuật, tìm ra được các lớp giá trị thứ tư tiềm ẩn trong các tác phẩm nghệ thuật. Như trên đã nói, lớp giá trị này ngay cả tác giả cũng không cảm nhận được trong tác phẩm của mình. Đó là tác dụng lâu dài của tác phẩm đối với sự phát triển của con đường nghệ thuật, sứ mạng của nó đã thành công với tương lai ra sao… Chính là nhờ sự khai quật của các nhà nghiên cứu phê bình nghệ thuật. Công lao của các nhà nghiên cứu phê bình nghệ thuật rất lớn. Nếu không có giới này, cũng sẽ không có lịch sử phát triển nghệ thuật, sẽ không có các trường phái lớn trên thế giới xuất hiện. Họ đã lưu trữ, phân tích, sắp xếp, phân loại nội dung, thủ pháp, các phương pháp sáng tác, sau đó tổng kết và đưa ra những nhận định mới với những kết luận chính xác.

     Nguyễn Quân - Phan Cẩm Thượng, hai cái tên nổi bật nhất trong “làng” nghiên cứu phê bình mỹ thuật Việt Nam hiện tại. Cùng trong thời gian qua, hai ông lần lượt cho ra hai cuốn nghiên cứu: “Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20” (Nguyễn Quân) và “Văn minh vật chất người Việt” (Phan Cẩm Thượng) - thêm đóng góp lớn lao cho nền nghiên cứu mỹ thuật Việt Nam. Riêng Nguyễn Quân đã cho ra mắt các cuốn “Nghệ thuật tạo hình Việt Nam hiện đại” (NXB Văn hóa 1982); “Ghi chú về nghệ thuật” (NXB Văn hóa 1990, NXB Trẻ 2008); “Tiếng nói của hình và sắc” (NXB Văn hóa 1986); “Con mắt nhìn cái đẹp” (NXB Mỹ thuật 2004), “Mỹ thuật của người Việt” (1989).

      Các nhà họa sĩ, điêu khắc không thể làm được chuyện này, đơn giản là nhiều người trong số họ sáng tác tức thời theo cảm xúc, theo con tim mách bảo, theo vốn sống họ đã trải nghiệm, theo sở thích cá tính của họ muốn… Chứ không bao giờ một nhà điêu khắc lại tự ý thức khi đang sáng tác, mình phải theo trường phái này hay kia. Điều này sẽ hạn chế sự sáng tạo của họ xuống mức thấp nhất. Trong lúc vẽ, rõ ràng Pablo Ruiz Picasso và Georges Braque không thể ý thức được rằng hai ông đang sáng lập ra trường phái Lập thể trong tương lai gần của hội họa và điêu khắc trong những quãng thời gian sau đó.

     Giới thứ ba chính là lực lượng đông đảo những người hâm mộ nghệ thuật. Họ tạo ra một môi trường nuôi dưỡng, động viên, nhắc nhở, giúp đỡ, tài trợ… cho hai giới trên làm việc với tính thần tốt nhất, hiệu quả nhất. Đại diện cho giới này là các nhà sưu tập tranh lớn nhỏ trên thế giới, là hệ thống các bảo tàng Mỹ thuật thuộc nhà nước hay tư nhân trên khắp thế giới.

     Nhưng điêu khắc có những tính chất nghệ thuật đặc thù riêng so với các ngành nghệ thuật anh em. Nó có những đặc điểm rất chung của các ngành nghệ thuật khác, nhưng lại có những yếu tố rất riêng không thể trộn lẫn vào đâu được. Thường khi coi một bộ phim, hay đọc một cuốn sách hay, ta rất dễ liên tưởng, ta đang sống trong thực tế đó, và có thể khoảng cách tâm lý đã bị đặt quá gần. Vì vậy ta có thể khóc hay cười cùng với nhân vật hư cấu trong đó. Do vậy các loại hình này có nhược điểm khách quan là dễ kéo ta nhập vào những hoàn cảnh cụ thể của tác phẩm mà không dễ nhận ra được thông điệp hay chân lý của nghệ thuật gửi gắm trong đó. Hệ quả dễ dẫn đến người thưởng ngoạn không phân biệt được ranh giới cảm xúc của mình, đâu là nghệ thuật, đâu là cuộc sống. Họ có thể mang súng bắn vào diễn viên kịch nói đóng vai ác (đã từng xảy ra trong lĩnh vực kịch nói ở miền Nam, trước 1975). Hoặc có thể ném đá vào diễn viên điện ảnh ngoài đường phố nếu người này đóng vai xấu trong phim làm cho họ ghét. Và có cả những phiên tòa kết án những bức tranh nghệ thuật có giá trị cao nhất với lý do phá hoại thuần phong mỹ tục (bức họa Maja khỏa thân của họa sĩ Francisco Goya…). Tác phẩm văn học “Bức họa Maja khỏa thân” của nhà văn Mỹ - Samuel Edwards, khắc họa sinh động về sự kiện có thật này.

     Đó là đối với các loại hình nghệ thuật động. Các loại hình tĩnh ít dẫn đến sự nhầm lẫn trên hơn. Khi coi một tác phẩm hội họa về chủ đề nude. Ít ai lại tưởng tượng là bức tranh đó là người thật để mà ôm ấp, vuốt ve…vì bức tranh là hai chiều, hiện thực là ba chiều. Người ta coi và thưởng thức bức tranh với những ý tưởng thuần về phân tích và thưởng thức thông điệp nghệ thuật mà tác giả gửi gấm. Âm nhạc và thơ ca cũng là những loại hình nghệ thuật động ít bị hiện thực hóa hơn kịch nói và phim ảnh. Đó là nói chung, khi nghiên cứu sâu sẽ còn gặp nhiều điều phức tạp hơn.

     Điêu khắc có đầy đủ các tính chất trên của các loại hình nghệ thuật. Người ta có thể thấy một bức tượng cô gái nude với sự nhẵn bóng của phần ngực. Đã có sự liên tưởng với người thật, độc giả đã thử cảm giác bằng cách ôm ấp, vuốt ve, xoa bóp… Đó là những người hâm mộ đã đặt khoảng cách quá gần, khiến hiện thực đè bẹp đi sự thưởng thức trong sáng. Lý do là ai cũng muốn sờ vào phần đó để thỏa mãn thú vui coi nó như là thật, mà quên đi hình tượng nghệ thuật, thông điệp tác phẩm mà tác giả ký thác trong đó. Những con rùa với phần đầu nhẵn thín trong Văn Miếu là nạn nhân của sự không thấu hiểu nguyên tắc này (loại trừ yếu tố tâm linh).

     Ngược lại, cũng có những bức tượng bị bóp méo đến mức không còn hiểu nội dung là gì, thì khi coi người ta đứng từ xa và xem như một thông điệp của người từ hành tinh khác gửi xuống do không hiểu rõ thông điệp và ý tưởng của tác giả đưa vào bức tượng, vì vậy đẩy họ đến chỗ xa lánh bức tượng, với lý do kinh nghiệm thực tế, vốn sống không thể giải mã được bất cứ nội dung nào trên tác phẩm.

     Chính vì đặc điểm dễ bị đánh đồng với hiện thực như vậy (vì bản thân nó đã mang yếu tố ba chiều), lại cũng dễ đẩy họ xa lánh tác phẩm, nên điêu khắc dễ làm lệch lạc sự thưởng thức nghệ thuật của người xem và hiểu sai thông điệp của tác giả. Một tác phẩm điêu khắc muốn thành công cần những tiêu chí gì. Nếu tác giả muốn tác phẩm là cho riêng bản thân, không muốn công bố hay triển lãm thì không nói. Nhưng nếu muốn công bố và được sự công nhận của xã hội, họ phải đạt được tiêu chí làm sao đừng cố đẩy người thưởng ngoạn liên tưởng đó là hiện thực cuộc sống (khiến khán giả tưởng là minh họa một sự kiện nào đó trong cuộc sống), và thông điệp nghệ thuật tác giả gửi trong đó sẽ không được người xem nhận ra, hoặc không được tạo điều kiện cho quần chúng nhìn tác phẩm với khoảng cách tâm lý thoát khỏi hiện thực quá xa và coi đó là một thứ dị dạng bí hiểm, không liên tưởng được với bất kỳ thứ gì trong cuộc sống. Họ sẽ cảm thấy xa lạ và né tránh tác phẩm... Với trường hợp sau, họ dễ đánh đồng đó là một tác phẩm của người ngoài hành tinh với nền văn minh xa lạ. Và thông điệp nghệ thuật gửi đi của tác giả cũng sẽ lại thất bại. Đến đây chắc ta sẽ thấy các pho tượng khi có nội dung hàm chứa cuộc sống con người, thì hình thức thường hay bị bóp méo đi về tỷ lệ. Tượng các cô gái ngồi hay bị kéo dài phần lưng, sự cách điệu của tượng cũng góp phần đáng kể giảm đi lỗi của nguyên nhân thứ nhất. Còn lỗi thứ hai cũng rất hay gặp phải với điêu khắc gia tự cho mình vượt lên mọi khuôn khổ trong cuộc sống, nguyên tắc nghệ thuật để đi tìm những ý tưởng mới lạ cho riêng mình. Sự thành công hay thất bại của họ sẽ có một hội đồng nghệ thuật tương lai phán xét. Nếu thành công họ sẽ được vinh danh. Còn thất bại cũng không sao, vì con đường nghệ thuật không trải đệm cho bất cứ ai. Trong lịch sử nghệ thuật tạo hình có vô vàn các tấm gương thành công và thất bại của các bậc tiền bối. Nghệ thuật điêu khắc hết sức khó sáng tác và gai góc là thế. Không cẩn thận tác phẩm nghệ thuật sẽ đưa người ta vào hai thái cực, và cả hai thái cực này sẽ dẫn đến sự thưởng thức tiêu cực cho người xem làm hạ đi giá trị nghệ thuật đích thực của tác phẩm.

     Ngay cả trong nghiên cứu hay sáng tác cũng vậy. Ta lấy một ví dụ điển hình cho dễ hình dung như khi sinh viên làm một bài nghiên cứu mẫu nude (hình 1.2, hình 1.3, hình 1.4). Lúc này, nếu sinh viên chưa có kinh nghiệm sẽ có hai tình huống xảy ra:

  Thứ nhất là nhìn mẫu nude với một con mắt trần tục, sẽ thấy nhục dục bị kích thích. Hoặc e lệ, xấu hổ, không dám tiếp xúc và nghiên cứu đối tượng. Các liên tưởng dẫn tới hiện thực hóa này sẽ làm tâm lý được nẩy nở theo chiều hướng xấu (như dẫn đến muốn quan hệ thỏa mãn xác thịt tầm thường với người mẫu, hoặc tâm thần bất định do xấu hổ…), đều khiến các hoạt động sáng tác nghệ thuật thất bại. Vì loại hình của chúng ta là điêu khắc tạo hình, tức chỉ chú trọng các đường nét, khối hình, mảng miếng dựa trên cơ sở của người mẫu để chắt lọc theo các tiêu chí của cái đẹp về hình thể thuần túy chuyên môn.



     Tình huống thứ hai, là ngược lại, nếu ta coi mẫu thật đó chỉ là một tượng thạch cao, một thứ đối tượng vô tri vô giác, thì ta đã tự đẩy xa khoảng cách tâm lý của ta quá xa đến nỗi ta không còn sự rung động của cái đẹp, của hơi thở cuộc sống, cái thức ăn nuôi dưỡng nguồn cảm hứng sáng tạo, cái mà bất cứ tác phẩm nào thiếu, đều dẫn đến hậu quả bài vở khô không khốc, vô hồn.

     Và tự tay ta đã bóp chết cảm hứng sáng tạo… Người biết sáng tác phải biết đẩy khoảng cách tâm lý ở mức vừa phải, không xa quá và không gần quá với đối tượng muốn nghiên cứu. Sinh viên mỗi khi làm bài sáng tác hay nghiên cứu, khi thầy hướng dẫn nhận xét là bài khô khan và vô hồn thì đó là một tín hiệu xấu cảnh báo cho phương pháp sáng tác của họ. Nghệ thuật nhiếp ảnh cũng có những khó khăn tương tự. Giữa cái đồi trụy (do xã hội ngộ nhận) và cái nghệ thuật chỉ cách nhau mỏng manh như sợi tóc (hình 1.5a).

     1.2.2. Tích cực và tiêu cực của nguyên tắc khoảng cách tâm lý.
    Nguyên tắc này có tích cực đối với các nghệ sĩ tạo hình. Ta có thể lấy một vài ví dụ, chỉ cần ứng dụng một chút nguyên tắc này, một người bình thường nhưng có một chút tố chất sáng tác cũng có thể thành công (Tất nhiên trong giới hạn nào đó).

     Ở đời có những nhà văn, suốt đời chỉ viết được một cuốn nhưng họ rất nổi tiếng. Vì đó chính là những cuốn tự truyện do họ sống và viết lại cuộc sống của họ. Chỉ khi họ biết đặt một khoảng cách với chính cuộc đời của họ. Cuộc đời họ sẽ như một đối tượng khách quan (tức là đã có khoảng cách) để họ nghiên cứu, ghi chép, phóng tác… Đó là Nikolai Alekseyevich Ostrovsky, tác giả của cuốn "Thép đã tôi thế đấy" đã một thời là cuốn sách gối đầu giường của một thế hệ thanh niên miền Bắc vào thời gian trước 1975. Tác phẩm này đã được  dịch ra nhiều thứ tiếng.

     Còn cuốn thứ hai “Papillon – người tù khổ sai” của tác giả Henri Charrière. Ông đọc một câu chuyện về cuộc sống của những người tù, và chợt nghĩ nếu viết lại cuộc đời tù ngục của chính bản thân mình, thì chắc chắn là ly kỳ, hấp dẫn hơn nhiều. Ông viết và đã thành công. Bộ phim cùng tên đã được hai nước Mỹ và Pháp sản xuất. Bài hát Papillon rất nổi tiếng trong phim vào những thập kỷ 70.

     Cả hai con người trên đều rất nổi tiếng của thời đại họ đang sống. Và điều đặc biệt là cả hai chỉ viết được một cuốn hồi ký duy nhất trong cuộc đời sáng tác ngắn ngủi của mình. Có rất nhiều người có nhiều vốn sống như hai người trên, cuộc sống kinh nghiệm có thừa, vốn sống bao la, nhưng không thể nào kể lại và chuyển thể thành tác phẩm được. Chính là vì họ không hiểu và áp dụng được nguyên tắc này. Nhiều người đã thử viết, song đều thất bại, họ đã bị chi phối của thực tại quá nhiều, họ không thể tách nổi vốn sống của mình thành một đối tượng hiện thực khách quan để nghiên cứu sáng tác.

     Một số người do kinh nghiệm thực dụng đã tồn tại một quy ước hết sức chặt chẽ không thể phá bỏ được trong ý thức. Đã bình thường hóa mọi việc, đồng nghĩa với sự thui chột của sự sáng tạo. Vì vậy kinh nghiệm cuộc sống càng ngày càng dày đặc, thì nhìn ra cái đẹp trong đó cũng bị thu hẹp. Đối với một người nông dân, suốt ngày  lao động khổ cực với hình ảnh con trâu đi trước cái cày theo sau, thì hình ảnh đó trở thành nỗi nhọc nhằn khổ sở do kinh nghiệm lao động đó đem lại. Người nông dân không còn thấy cái hình tượng đẹp đẽ thi vị của nó như những du khách nước ngoài lần đầu chứng kiến hình ảnh lao động này. Du khách nước ngoài thấy cảnh đẹp, do họ chưa hề trải qua lao động để có kinh nghiệm khổ cực của sự lao động vất vả này. Con trâu và cái cày là một hình tượng được nhiều tác giả nghệ thuật khai thác ở nhiều khía cạnh và rất thành công. Cả trong thơ ca, văn chương, hội họa và điêu khắc, hình ảnh con trâu và cái cày luôn thân thương, đẹp đẽ, biểu hiện cho tình yêu quê hương và đất nước.

     Chúng ta cũng không còn xa lạ gì với những bức tranh tĩnh vật nổi tiếng của các tác giả nổi tiếng vẽ những đồ vật tầm thường nhất. Những khoảnh vườn sân nắng, mà bất cứ ai cũng có thể bỏ qua khi đi ngang qua chúng. Nhưng qua lăng kính tác giả, đã trở thành những tác phẩm kinh điển. Không một người bình thường nào nhận biết được những cái đẹp tiềm ẩn nơi đây. Chỉ chính là họ, những họa sĩ tài ba đã nhận ra và không thể bỏ qua chúng trong tác phẩm của mình. Và họ vận dụng được nguyên tắc này, tách chúng khỏi cuộc sống hàng ngày của chính mình, chúng sẽ trở thành một đối tượng khách quan và có cơ hội trở thành những tác phẩm nghệ thuật bất hủ. Trong cuộc đời sự nghiệp sáng tác và nghiên cứu nghệ thuật của mình, Leonardo da Vinci cũng chỉ có rất ít những tác phẩm nghệ thuật, hầu như mỗi lĩnh vực ông chỉ có một vài tác phẩm. Nhưng chúng vô cùng nổi tiếng và chứa đựng nhiều giá trị to lớn.

     Ngoài các yếu tố tích cực trên, ta cũng cần phải tránh các tác động tiêu cực của chúng nếu sử dụng chúng thái quá. Trong thực tế, ở các lĩnh vực khác, chúng ta không thể phủ nhận nhiều trường hợp đã vận dụng thái quá nguyên tắc này. Như nhiếp ảnh gia người Mỹ, có tên Miles Morgan, 42 tuổi, đã vô cùng dũng cảm tới gần những núi lửa đang hoạt động để ghi lại những khoảnh khắc hiếm có khi núi lửa hoạt động. Phần lớn chúng ta sẽ chạy khi thấy núi lửa phun trào, nhưng những người như họ thường xuyên tới gần những núi lửa đang hoạt động để chụp những bức ảnh sống động. Và có trường hợp cả hai vợ chồng nhiếp ảnh khi đang tác nghiệp đã bị núi lửa phun trào đã cướp đi sinh mạng của họ. Chính vì họ đã để khoảng cách tâm lý quá xa đến nỗi trước mặt họ chỉ còn cái đẹp, mọi kinh nghiệm nguy hiểm của núi lửa mà họ đã nghiên cứu, từng trải đều không còn tồn tại trong ý thức họ lúc đó nữa. Và tai nạn có thể tránh được đã xảy ra. Tương tự cho các nhà nhiếp ảnh chuyên chụp các hiện tượng thiên nhiên nguy hiểm như vòi rồng, sấm chớp, bão tố, sóng thần… Những tác phẩm nghệ thuật sáng tác về Thiên đàng hay địa ngục, hoặc có chủ đề viễn tưởng… thường hay dễ bị sa vào lối tiêu cực này. Do kinh nghiệm con người thực tế chưa bao giờ trải nghiệm qua các cảnh giới này. Vì vậy những tác phẩm thành công trong lĩnh vực này, hầu hết đều có dáng dấp kinh nghiệm của đời sống con người hiện thực áp đặt và mô phỏng ở một mức độ nào đó vào trong tác phẩm của họ.



     Một trong những sở trường của những người trong giới sáng tác nghệ thuật là họ đã biết nhìn sự vật đối tượng với một khoảng cách vừa phải, chính xác. Nghĩa là nhìn một người mẫu nude, họ sẽ nghĩ ngay đến một dáng dấp, một bố cục tạo hình đẹp, chứ không phải đó là một người nhân tình với đầy đủ tính dục trong cuộc sống. Nhìn một cây mai, là họ nghĩ ngay đến những hình thế đẹp về hình thức của nó, chứ không nghĩ là cây này sẽ bán giá được bao nhiêu… thậm chí ngay cả những giấc mơ có sự vật và cảnh đẹp trong tiềm thức, cũng khiến họ nảy sinh, thai nghén cho những ý tưởng phác thảo cho một một tác phẩm tương lai.

     Nếu so sánh khoảng cách giữa một tác phẩm hội họa và điêu khắc, thì điêu khắc rất dễ mắc phải nhược điểm gần thực dụng hơn (do đặc tính ba chiều của nó). Vì vậy đòi hỏi sự cách điệu dữ dội hơn các tác phẩm Hội họa. Nhằm kéo dài khoảng cách tâm lý ra xa hơn, phù hợp với đặc tính khách quan của mình. Nhờ vậy các kinh nghiệm mỹ cảm khi sáng tác và thưởng ngoạn điêu khắc sẽ được phát huy. Thông điệp của tác giả, cùng sứ mạng khách quan được chuyển tới cuộc sống xã hội.



     Và đây là một ví dụ điển hình khi những chuyên gia trái ngành (chỉ là chuyên gia trong một số lĩnh vực nào đó) phân tích tranh nghệ thuật dưới góc độ khác:

     “…Thật bất ngờ khi các chuyên gia kết luận nàng Mô-na Li-da vừa mới sinh con vào thời điểm đứng làm người mẫu cho Lê-ô-na đơ Vanh-xi vẽ tuyệt tác này. Với công nghệ hiện đại (như máy quét 3 chiều) cho phép nhìn rõ hơn từng chi tiết của bức tranh, thường bị che khuất dưới lớp sơn dầu, các chuyên gia phát hiện bên ngoài chiếc váy nàng Mô-na Li-da đang mặc phủ một lớp canvas mỏng tang. Đây là loại váy dành cho phụ nữ I-ta-li-a ở đầu thế kỷ 16, mặc khi đang mang thai hoặc vừa mới sinh con. Các chuyên gia kết luận bức tranh của Lê-ô-na đờ Vanh-xi được vẽ để kỷ niệm lần sinh con trai thứ hai của nàng Mô-na Li-da, và nhờ đó họ có thể xác định chính xác hơn thời điểm vẽ tranh, đó là khoảng năm 1503. Người phụ nữ trẻ với nụ cười bí ẩn này được xác định là Li-xa Ghê-ra-đi-ni (Lisa Gherardini), vợ của thương gia người Phlo-ren-ti-na (Florentine), ông Phran-che-xcô đơ Giô-công (Francesco de Giocondo). Lần đầu tiên, người ta phát hiện tóc nàng Mô-na Li-da được cuộn thành búi ở phía sau chứ không phải có vẻ buông xõa như bức tranh hiện nay. Phát hiện này giải tỏa những tranh cãi trước đây, rằng chỉ có con gái hay phụ nữ "hư hỏng" mới xõa tóc ở thế kỷ 16, nhưng Mô-na Li-da là một phụ nữ đức hạnh. Trong bức tranh, có một vật giữ ghế của nàng Mô-na Li-da, và nàng không ngồi tựa vào sau ghế như mọi người vẫn nghĩ mà đứng thẳng. Các nhà nghiên cứu cũng không thấy vết bút lông vẽ và cho rằng có thể Lê-ô-na đờ Vanh-xin đã dùng ngón tay để thể hiện kiệt tác này” [11].
Vì vậy khi vận dụng nguyên tắc này, ta phải thấu đáo khai thác tính tích cực, hạn chế tối đa mặt tiêu cực, để có thể cho ra được những tác phẩm với nội dung và đầy đủ ý nghĩa sứ mạng cao cả của nó.

     1.2.3. Nghệ thuật - mục đích thực dụng và kinh nghiệm trong cuộc sống.
    Trong tất cả các tác phẩm nghệ thuật từ trước tới nay, trong bảy lĩnh vực nghệ thuật đều có nội dung xuất phát từ cuộc sống xã hội con người. Ngay cả các thể loại tôn giáo, viễn tưởng… cũng đều lấy chất liệu cuộc sống con người để mô phỏng ra các thế giới tưởng tượng khác. Giới nghệ sĩ khi sáng tác theo phương pháp kinh điển là đi thực tế theo chủ đề, tìm mọi hình tượng, động tác, sau đó chọn những động tác điển hình nhất cho chủ đề, có dáng thế đẹp nhất làm nguyên vật liệu chế tác thành tác phẩm. Lúc này, chất liệu là cái ai cũng biết, nhưng tác phẩm đã qua lăng kính của tác giả, qua cách nhìn riêng, phong cách riêng, mang đậm dấu ấn cá nhân, và trở thành một cái hoàn toàn mới. Họ đã tổng hợp cái mới từ những nguyên liệu cũ kỹ. Đây mới chính là giá trị của tác phẩm và thấy được sự sáng tạo ra cái mới của mỗi tác giả. Nhưng cũng chính nhờ những nguyên vật liệu cũ đó mà độc giả mới có thể lãnh hội được tác phẩm. Mới có thể thấy được thông điệp, ý nghĩa, nội dung mà tác giả muốn gửi gấm. Vì vậy hai vấn đề này phải được nhìn nhận đúng đắn trong sáng tác mới có thể đạt được thành công nào đó về chất lượng nghệ thuật cũng như nội dung. Một khoảng cách gần như xa, xa tợ gần. Nhưng không được mơ hồ lẫn lộn.

     Chu Quang Tiềm đã viết: “Trong kinh nghiệm mỹ cảm, một mặt chúng ta phải vượt lên trên hay ra ngoài cuộc sống thực tế, một mặt lại phải bám vào thực tế, một mặt phải coi như không có Ta. nhưng một mặt lại phải đem những kinh nghiệm của ta soi rọi vào tác phẩm, như thế không phải là một sự mâu thuẫn sao? thật ra vẫn có một sự mâu thuẫn, cho nên Builcuth gọi đó là "mâu thuẫn của khoảng cách" (The Antinomy of Distance), sự sáng tạo cũng như thưởng ngoạn có thành công hay không, là cứ xem cách bố trí sự mâu thuẫn về khoảng cách có thỏa đáng hay không. Như khoảng cách quá xa thì kết quả là không lãnh hội được, còn khoảng cách quá gần, thì sẽ bị động cơ thực dụng áp đảo đánh mất mỹ cảm. Cho nên lý tưởng tốt nhất của nghệ thuật là làm sao khoảng cách tợ hồ như gần nhưng là xa hay như xa mà lại gần.” [3, tr.39]

     Trong lịch sử Mỹ thuật nước nhà, trong khoảng thời gian 1935-1936, xuất hiện sự tranh luận (bút chiến của Hải Triều và Hoài Thanh) giữa hai trường phái nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh. Hay có thể nói nôm na là hai dòng văn học theo hai trường phái chủ nghĩa lý tưởng và chủ nghĩa tả thực.

     Theo Chu Quang Tiềm: “Chủ nghĩa lý tưởng và chủ nghĩa tả thực đối với khoảng cách, một bên thì quá xa, một bên lại quá gần. Nghệ thuật nói chung là phải có một phần cận tình cận lý nhưng một phần khác lại không được cận tình cận lý. Phần cận tình cận lý là khoảng cách không đến nỗi quá xa có thể người mới dễ lãnh hội và thưởng ngoạn, còn phần không cận tình cận lý là khoảng cách hơi xa ra, có thể mới khiến người thưởng ngoạn không đi tư thế giới mỹ cảm đến thế giới thực dụng. Phàm là nghệ thuật đều phải có ít nhiều lý tưởng tính, đều là phản nghịch lại với chủ nghĩa tả thực. Nói như thế không có nghĩa là tất cả những sự kiện có tính cách hiện thực đều không thể dùng làm tài liệu tạo nên nghệ thuật. Những sự vật trong thế giới hiện thực dù có liên quan mật thiết đến thực dựng, khoảng cách quá gần, nhưng một khi đã qua bàn tay cắt xén chọn lọc của nhà nghệ thuật thì những tài liệu ấy lại trở nên có một khoảng cách thích đáng.” [3, tr.45].

     Như vậy theo quan điểm của nguyên tắc này, ta sẽ có được một khoảng cách tâm lý vừa phải cho mỗi chủ đề, cho mỗi ngôn ngữ chất liệu, cho mỗi loại hình… sao cho phù hợp khiến cho tác phẩm của ta đừng gần quá đến nỗi độc giả bị cái thực dụng áp đảo khiến không thể nhận ra được hàm ý cái đẹp, cái mỹ cảm trong tác phẩm. Và đừng quá xa vời khiến độc giả không thể hiểu nổi nội dung là gì do không có nổi một chút khái niệm, kinh nghiệm gì về nội dung đó. Đọc tác phẩm truyện Kiều của Nguyễn Du - một tác phẩm khá lâu đời trong thời điểm hiện nay. Khi đọc tập thơ trên, phần chú thích đã gấp đôi phần thơ. Lý do chính vì thời đó quá xa thời ta đang sống, những kinh nghiệm thực tế trong đó không thể nào dùng kinh nghiệm thời ta sống mà hiểu được. Để muốn hiểu và thưởng thức được cái hay, đẹp của thời ấy, bắt buộc phải có nhiều chú giải để độc giả hiểu thêm kinh nghiệm thực tế của thời đó. Còn những tác phẩm thời nay không hề có nhiều chú giải đến vậy.

     Trong thời đại hiện nay, với sự góp sức của công nghệ thông tin, công việc sáng tác của các văn nghệ sĩ đã có ít nhiều bị ảnh hưởng, và đang có phần lưỡng lự trong phần kỹ thuật, kỹ năng sáng tác. Nên đi theo thủ pháp, kỹ năng cổ điển truyền thống, tức dùng những công cụ thủ công như cũ hay là theo những công cụ hỗ trợ hiện đại mà sự bùng nổ của khoa học kỹ thuật đem lại. Hiện tại là một bước chuyển giao nên sẽ có nhiều đột phá lớn trong sáng tác nghệ thuật của thế giới, và sẽ không ít tác giả, độc giả có cách nhìn khác với những cách tân mới, theo xu hướng phát triển khách quan.

     Trong lĩnh vực điêu khắc, khi máy in 3D ra đời, nó sẽ là một bước đột phá trong công cuộc đào tạo nghệ thuật điêu khắc. Ít nhất các công đoạn làm phác thảo sẽ có hai lựa chọn cho sinh viên, theo cách truyền thống và theo cách sử dụng công nghệ thông tin.

     Với sự quan trọng của công việc tìm ý tưởng và thể hiện phác thảo nhỏ (hình 1.6). Chúng ta hoàn toàn có thể làm trên máy và in phác thảo thành một tượng 3 chiều hoàn chỉnh thực qua máy in 3D. Sự sáng tạo là không giới hạn với các nghệ sĩ tạo hình. Và với sự hỗ trợ mới từ các công nghệ mới chắc chắn sẽ mở đường cho một trào lưu mới trong sáng tác nghệ thuật điêu khắc. Hiện nay trong các chuyên ngành xã hội đã có sự ứng dụng của máy in 3D hết sức ấn tượng (hình 1.7). Trong kiến trúc, người ta đã thiết kế nhà cửa trên máy tính (ngành nghệ thuật thứ nhất này đã áp dụng thiết kế trên máy tính, và gần đây là máy in 3D) và đã in (3D) hàng loạt các sản phẩm bằng thật để đem áp dụng vào cuộc sống.



      Ngành y đã ứng dụng in 3D để sản xuất các bộ phận con người nhằm từng bước nghiên cứu thay thế chúng trực tiếp trên cơ thể. Ngành Mỹ thuật công nghiệp trên thế giới đã ứng dụng in 3D, sáng tác trực tiếp các tác phẩm, hoa văn trang trí…và in 3D bằng các chất liệu kim loại, gắn chúng ngay tại hiện trường (hình 1.Cool. Trên các công trình văn hóa và kiến trúc lớn… Cho đến bây giờ, điêu khắc có một thuận lợi hết sức là có thể kế thừa bề dày kinh nghiệm hơn 10 năm qua của các sự đột phá nghệ thuật nhờ công nghệ mới này.

      Chính vì vậy, các siêu phẩm điện ảnh trên thế giới, với sự thành công rực rỡ về chất lượng nghệ thuật, bên cạnh đó là sự đóng góp to lớn của đội ngũ các nhà thiết kế mô hình bằng các phần mềm 3D, điển hình là Zbrussh trên máy tính (hình 1.9, hình 1.10).

     Hiện nay, đội ngũ thiết kế 3D trên máy tính trên thế giới, phần lớn không phải là những nhà điêu khắc chuyên nghiệp. Họ không được học tập các kỹ năng, kỹ thuật sáng tác. Họ không hiểu về nghệ thuật bố cục, các nguyên tắc và quy luật sắp xếp khối, mảng, họ thiết kế và sáng tác theo những cảm nhận riêng và theo đơn đặt hàng. Vì vậy chắc chắn chất lượng nghệ thuật không cao. Đây cũng là một khách quan, bởi họ chỉ là những kỹ thuật viên, sử dụng thành thạo kỹ thuật máy tính, am hiểu phần mềm 3D, và mày mò tự thiết kế. Nhưng trong tương lại không xa, một đội ngũ các nhà họa sĩ điêu khắc trẻ. Có chuyên môn sáng tác, nắm trong tay một công cụ mạnh mẽ với nhiều tính năng, hỗ trợ mạnh cho công việc sáng tác. Họ thành thạo sử dụng các phần mềm 3D trong đó có Zbrussh, sẽ tạo nên một cơn địa chấn lớn trong nghệ thuật Điêu khắc.

     Tóm lại, tâm lý sáng tác nói chung giữa các ngành nghệ thuật đều có một sợi chỉ đỏ xuyên xuốt. Nhưng trong Điêu khắc, sáng tác trên máy tính sẽ có một lợi thế về khoảng cách tâm lý để tác phẩm có thể đạt được nhiều yêu cầu chất lượng về nội dung hiện thực cũng như nghệ thuật.



Hết phần 1
Xin xem tiếp phần 2:
Đây là bài viết bản quyền của diễn đàn khoa ĐK-ĐHNT-ĐHH, cá nhân và tổ chức sao chép xin ghi rõ nguồn. 
Phan Xuân Hòa.

_________________
Hãy chia sẻ kiến thức. Chỉ có điều đó mới làm bạn trở nên bất tử.
Phan Xuân Hòa.
http://hoachithanh.com
http://zbrushtiengviet.info
http://vn-gallery.com
avatar
Admin
Admin

Nam Tổng số bài gửi : 195
Age : 57
Location : Huế - Thừa Thiên Huế
Humor : Trải nghiệm mới vững tin
Points : 318
Reputation : 4
Registration date : 14/10/2007

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang

- Similar topics

 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết